Ngày 22/ 3/2012, Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XIII đã thông qua Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật (Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL). Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL gồm 4 chương 20 Điều, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2012. Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL được ban hành nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng về bảo đảm tính “minh bạch của hệ thống pháp luật”, “nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật” theo tinh thần Nghị quyết số 48/NQ-TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020. Việc ban hành Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL là bước đi quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp cận. Việc hợp nhất VBQPPL nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc tra cứu và thực thi văn bản. Để thông tin các nội dung cơ bản của Pháp lệnh này, chúng tôi xin giới thiệu một số nội dung quan trọng của Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL.
1. Về phạm vi điều chỉnh
Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của các cơ quan trong việc hợp nhất VBQPPL, trình tự, kỹ thuật hợp nhất VBQPPL. Theo quy định của Pháp lệnh, hợp nhất VBQPPL là việc đưa các nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của VBQPPL đã được ban hành trước đó vào văn bản được sửa đổi, bổ sung theo quy trình, kỹ thuật quy định tại Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL.
Việc hợp nhất các VBQPPL chỉ áp dụng đối với VBQPPL do các cơ quan nhà nước ở trung ương ban hành, bao gồm các văn bản quy phạm pháp luật của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ.
2. Về nguyên tắc hợp nhất và sử dụng văn bản hợp nhất
Về nguyên tắc hợp nhất, Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL quy định việc hợp nhất VBQPPL được thực hiện theo các nguyên tắc sau: (i) Chỉ hợp nhất văn bản do cùng một cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành; (ii) Việc hợp nhất văn bản không được làm thay đổi nội dung và hiệu lực của văn bản được hợp nhất; (iii) Tuân thủ trình tự, kỹ thuật hợp nhất văn bản.
Về sử dụng văn bản hợp nhất, theo Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL, văn bản hợp nhất được sử dụng chính thức trong áp dụng và thi hành pháp luật. Như vậy, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thể trích dẫn, viện dẫn, sử dụng các điều, khoản của văn bản hợp nhất để thực hiện các quyền, nghĩa vụ hoặc bảo vệ quyền lợi của mình. Quy định này cũng khẳng định việc bảo đảm độ tin cậy, giá trị sử dụng của văn bản hợp nhất, đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân áp dụng và thực hiện thống nhất pháp luật.
3. Về thẩm quyền và việc tổ chức hợp nhất
Để bảo đảm việc hợp nhất văn bản được nhanh chóng, kịp thời, chính xác và có sự tiếp nối liên tục từ quá trình soạn thảo, ban hành đến hợp nhất văn bản, không làm phát sinh thêm biên chế, tổ chức mới và căn cứ vào khả năng thực tế của các cơ quan liên quan, Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL quy định thẩm quyền hợp nhất văn bản của từng chủ thể tương ứng với hình thức văn bản quy phạm pháp luật. Cụ thể như sau:
Thứ nhất, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội tổ chức thực hiện việc hợp nhất đối với văn bản của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, văn bản liên tịch giữa Ủy ban thường vụ Quốc hội với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ hai, Người đứng đầu cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản được sửa đổi, bổ sung của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức thực hiện việc hợp nhất đối với văn bản của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, văn bản liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội.
Thứ ba, Chánh án Toà án nhân dân tối cao tổ chức thực hiện việc hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành, văn bản của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo.
Thứ tư, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao tổ chức thực hiện việc hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo.
Thứ năm, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ tổ chức thực hiện việc hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo.
Thứ sáu, Tổng Kiểm toán Nhà nước tổ chức thực hiện việc hợp nhất đối với văn bản do mình ban hành.
Về thời hạn hợp nhất, Pháp lệnh quy định thời hạn hợp nhất văn bản .
Đồng thời, việc hợp nhất văn bản và ký xác thực văn bản hợp nhất được tiến hành trong vòng 05 ngày làm việc kể từ khi văn bản sửa đổi, bổ sung được công bố hoặc ký ban hành. Ngoài ra, Pháp lệnh cũng yêu cầu văn bản hợp nhất phải đăng Công báo cùng lúc với văn bản sửa đổi, bổ sung và đăng đồng thời trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản được hợp nhất.
4. Về xử lý sai sót trong văn bản hợp nhất
Hợp nhất văn bản chỉ thuần túy là việc đưa các nội dung sửa đổi, bổ sung vào văn bản được sửa đổi, bổ sung, tuy nhiên, trong quá trình hợp nhất cũng có thể xảy ra sai sót về kỹ thuật dẫn đến nội dung của văn bản hợp nhất khác với nội dung của văn bản được hợp nhất. Trong trường hợp này, các quy định của văn bản được hợp nhất sẽ được áp dụng. Đồng thời, cơ quan, tổ chức, cá nhân phát hiện có sai sót trong văn bản hợp nhất gửi kiến nghị đến cơ quan thực hiện việc hợp nhất để kịp thời xử lý trường hợp không xác định được cơ quan thực hiện việc hợp nhất thì gửi kiến nghị đến Bộ Tư pháp để Bộ Tư pháp thông báo ngay đến cơ quan có trách nhiệm xử lý sai sót.
Khi phát hiện sai sót, trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được kiến nghị, cơ quan thực hiện việc hợp nhất phối hợp với cơ quan Công báo xử lý sai sót trong văn bản hợp nhất và thực hiện việc đính chính trên Công báo theo quy định của pháp luật về Công báo. Văn bản hợp nhất đã được xử lý sai sót phải được đăng trên Công báo điện tử và trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành văn bản.
5. Về kỹ thuật hợp nhất văn bản
Văn bản hợp nhất là văn bản chứa đựng toàn bộ quy phạm pháp luật còn hiệu lực pháp luật của văn bản được hợp nhất và văn bản sửa đổi, bổ sung. Do vậy, việc hợp nhất VBQPPL được thực hiện theo một trình tự, thủ tục và kỹ thuật riêng, kết cấu theo một thể thức và kỹ thuật trình bày riêng. Vì vậy, để thống nhất cách thức trình bày văn bản hợp nhất, Pháp lệnh quy định cụ thể về kỹ thuật hợp nhất VBQPPL như sau:
Thứ nhất, về thể thức của văn bản hợp nhất. Thể thức của văn bản hợp nhất bao gồm phần quốc hiệu, tiêu ngữ, tên văn bản hợp nhất, lời nói đầu, căn cứ ban hành, phần, chương, mục, điều, khoản, điểm của văn bản được sửa đổi, bổ sung và các nội dung được hợp nhất, phần quy định về việc thi hành, phần ký xác thực.
Thứ hai, về tên văn bản hợp nhất. Tên văn bản hợp nhất là tên của văn bản được sửa đổi, bổ sung. Văn bản được sửa đổi, bổ sung có thể được sửa đổi, bổ sung nhiều lần, nhưng tên của văn bản được ban hành lần đầu tiên chính là tên của văn bản hợp nhất.
Tên văn bản được sửa đổi, bổ sung và tên văn bản sửa đổi, bổ sung được liệt kê ngay sau tên văn bản hợp nhất. Kèm theo tên văn bản được sửa đổi, bổ sung và văn bản sửa đổi, bổ sung phải ghi rõ số, ký hiệu, ngày, tháng, năm thông qua hoặc ký ban hành, tên cơ quan ban hành và ngày có hiệu lực của từng văn bản.
Thứ ba, về hợp nhất lời nói đầu, căn cứ ban hành. Tại văn bản được sửa đổi, bổ sung có lời nói đầu được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ thì việc hợp nhất lời nói đầu được thực hiện như việc hợp nhất nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ theo quy định về hợp nhất nội dung sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ.
Trong văn bản hợp nhất phải có ký hiệu chú thích ngay tại phần căn cứ ban hành và tại cuối trang của văn bản hợp nhất phải ghi chú rõ tên, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung và căn cứ ban hành của văn bản sửa đổi, bổ sung. Thứ tư, về hợp nhất nội dung được sửa đổi. Văn bản được sửa đổi, bổ sung có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ được sửa đổi thì số thứ tự của phần, chương, mục, điều, khoản, điểm trong văn bản hợp nhất vẫn được giữ nguyên như văn bản được sửa đổi, bổ sung. Trong văn bản hợp nhất phải có ký hiệu chú thích ngay tại phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ được sửa đổi. Tại cuối trang của văn bản hợp nhất phải ghi chú rõ tên, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung và ngày có hiệu lực của quy định sửa đổi phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ.
Thứ năm, về hợp nhất nội dung được bổ sung. Văn bản được sửa đổi, bổ sung có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ được bổ sung thì số thứ tự của phần, chương, mục, điều khoản, điểm trong văn bản hợp nhất vẫn được giữ nguyên như văn bản được sửa đổi, bổ sung. Việc sắp xếp phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ được bổ sung trong văn bản hợp nhất được thực hiện theo thứ tự quy định trong văn bản sửa đổi, bổ sung. Trong văn bản hợp nhất phải có ký hiệu chú thích ngay tại phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ được bổ sung. Tại cuối trang của văn bản hợp nhất phải ghi chú rõ tên, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung và ngày có hiệu lực của quy định bổ sung phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ.
Thứ sáu, về hợp nhất nội dung được bãi bỏ. Văn bản được sửa đổi, bổ sung có phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ được bãi bỏ thì trong văn bản hợp nhất không thể hiện nội dung được bãi bỏ. Số thứ tự phần, chương, mục, điều, khoản, điểm trong văn bản hợp nhất được giữ nguyên như văn bản được sửa đổi, bổ sung và ngay sau số thứ tự của phần, chương, mục, điều, khoản, điểm đó phải có ký hiệu chú thích và ghi rõ cụm từ “được bãi bỏ”. Trường hợp có đoạn, cụm từ được bãi bỏ thì phải có ký hiệu chú thích ngay tại vị trí của đoạn, cụm từ đó.
Cuối trang của văn bản hợp nhất phải ghi chú rõ tên, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung và ngày có hiệu lực của quy định bãi bỏ phần, chương, mục, điều, khoản, điểm, đoạn, cụm từ để tạo thuận lợi cho việc xác định thời điểm chấm dứt hiệu lực của các nội dung được bãi bỏ.
Thứ bảy, về quy định thi hành trong văn bản hợp nhất. Trường hợp văn bản sửa đổi, bổ sung có điều khoản quy định về hiệu lực thi hành, trách nhiệm thi hành, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành, quy định chuyển tiếp thì trong văn bản hợp nhất phải có ký hiệu chú thích ngay tại tên chương hoặc điều quy định về việc thi hành và tại cuối trang của văn bản hợp nhất phải ghi chú rõ tên, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung, ngày có hiệu lực và các nội dung về việc thi hành trong văn bản sửa đổi, bổ sung. Trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung không có chương hoặc điều về việc thi hành thì các nội dung này được thể hiện tại phần quy định về việc thi hành ở cuối văn bản hợp nhất, kèm theo tên, số, ký hiệu của văn bản sửa đổi, bổ sung.
Trường hợp cơ quan ban hành văn bản được hợp nhất có ban hành văn bản quy định về việc thi hành văn bản được hợp nhất thì trong văn bản hợp nhất phải có ký hiệu chú thích ngay tại tên chương hoặc điều quy định về việc thi hành và tại cuối trang của văn bản hợp nhất phải ghi chú rõ tên, số, ký hiệu, ngày, tháng, năm thông qua hoặc ký ban hành của văn bản quy định về việc thi hành. Trường hợp văn bản được sửa đổi, bổ sung không có chương, điều về việc thi hành thì phải có ký hiệu chú thích tại phần quy định về việc thi hành trong văn bản hợp nhất và tại cuối trang của văn bản hợp nhất phải ghi chú rõ tên, số, ký hiệu, ngày, tháng, năm thông qua hoặc ký ban hành của văn bản quy định về việc thi hành.
6. Về việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh Hợp nhất văn bản
Để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, tìm hiểu cũng như việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, bên cạnh việc hợp nhất các VBQPPL ban hành sau ngày Pháp lệnh có hiệu lực, Pháp lệnh hợp nhất VBQPPL cũng quy định phải tiến hành hợp nhất các văn bản được sửa đổi, bổ sung với văn bản sửa đổi, bổ sung được ban hành trước khi Pháp lệnh hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực (01/7/2012). Để bảo đảm có một khoảng thời gian hợp lý để hoàn thành việc hợp nhất, Pháp lệnh có quy định trong thời hạn 02 năm, kể từ ngày 01/7/2012, các văn bản được ban hành trước ngày Pháp lệnh này có hiệu lực phải được hợp nhất và đăng trên Công báo điện tử và trang thông tin điện tử của cơ quan nhà nước theo quy định của Pháp lệnh.
Để tổ chức tốt việc triển khai thi hành Pháp lệnh hợp nhất văn bản, ngày 28 tháng 9 nám 2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 26/CT-TTg yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ: (i) Tổ chức tốt việc quán triệt nội dung của Pháp lệnh; đồng thời phối hợp chặt chẽ với Bộ Tư pháp trong việc tổ chức tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, bồi dưỡng kỹ năng hợp nhất văn bản, pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật cho cán bộ, công chức của cơ quan mình; (ii) Xác định hợp nhất VBQPPL là nhiệm vụ thường xuyên trong chương trình công tác của cơ quan mình, tập trung các nguồn lực có chất lượng, củng cố tổ chức pháp chế và các điều kiện cần thiết khác để bảo đảm triển khai kịp thời, hiệu quả, đúng thẩm quyền và trình tự, thủ tục; đúng kỹ thuật việc hợp nhất VBQPPL theo quy định; (iii) Tổ chức ngay việc rà soát, tập hợp, xây dựng kế hoạch hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật của Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, văn bản liên tịch giữa Chính phủ với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội và văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành, văn bản liên tịch do cơ quan mình chủ trì soạn thảo được ban hành trước ngày 01 tháng 7 năm 2012; tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ được phân công sau khi Kế hoạch hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ được ban hành. (iv) Tổ chức thực hiện thường xuyên việc hợp nhất các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành sau ngày 01 tháng 7 năm 2012./.
Trần Thu Hường