Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội

Trả lời ĐBQH Trần Trí Dũng - Trà Vinh

18/11/2014 22:38:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trân trọng cảm ơn Đại biểu Quốc hội Trần Trí Dũng, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Trà Vinh đã quan tâm, ủng hộ và đánh giá tích cực đối với những nỗ lực hoạt động của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua.

Về ý kiến chất vấn của Đại biểu Quốc hội nêu tại văn bản số 39/SYCV-GS ngày 08/10/2014 của Văn phòng Quốc hội, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có ý kiến trả lời như sau:

1. Về cơ chế, chính sách nhằm tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất chế biến cá fillet từ nguyên liệu cá da trơn

Ngành sản xuất chế biến cá fillet từ nguyên liệu cá da trơn được xem là ngành có thế mạnh của Việt Nam, đặc biệt là ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Do đó thời gian qua, Chính phủ và NHNN đã có nhiều chính sách hỗ trợ nhằm tháo gỡ khó khăn và gia tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng của hộ dân, hợp tác xã và doanh nghiệp trong lĩnh vực này, cụ thể:

- Chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) ưu tiên tập trung nguồn vốn để cho vay; quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ hiện nay là 8%/năm, thấp hơn các lĩnh vực kinh doanh thông thường khác từ 1-2%/năm;

- Thực hiện nhiều giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện để hộ dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng, phục hồi và phát triển sản xuất như xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, ưu tiên cho vay ngoại tệ để nhập khẩu thức ăn chăn nuôi, nguyên liệu trong nước chưa sản xuất được;

- Bên cạnh các chính sách chung về hỗ trợ tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, NHNN cũng đã phối hợp với các Bộ, ngành đề xuất nhiều giải pháp khắc phục khó khăn, hỗ trợ sản xuất cho ngành cá tra như:

+ Thực hiện chính sách tín dụng tháo gỡ khó khăn đối với lĩnh vực chăn nuôi và thủy sản theo chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ tại văn bản số 1149/TTg-KTN ngày 08/8/2012 và Thông báo số 418/TB-VPCP ngày 21/12/2012, NHNN ban hành các văn bản 5294/NHNN-TD ngày 20/8/2012 và văn bản 210/NHNN-TD ngày 09/01/2013 chỉ đạo 5 ngân hàng thương mại nhà nước thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất, giãn nợ tối đa 24 tháng, cho vay mới với lãi suất thị trường thấp nhất đối với khách hàng vay là các hộ gia đình, trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp nuôi, chế biến và xuất khẩu cá tra.

+ Thời gian qua, đối tượng khách hàng là hộ dân, chủ trang trại, hợp tác xã nuôi cá tra vẫn còn gặp nhiều khó khăn do bị thua lỗ kéo dài nhiều năm khiến việc sản xuất, kinh doanh phục hồi chậm. Vì vậy, để tiếp tục tháo gỡ khó khăn cho nhóm đối tượng này, NHNN đã tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 thực hiện chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra như sau:

(i) TCTD xem xét cơ cấu lại thời hạn trả nợ tối đa 36 tháng (bao gồm thời gian gia hạn nợ theo văn bản số 1149/TTg-KTN), không thu lãi quá hạn, lãi phạt đối với các khoản nợ được cơ cấu; miễn, giảm lãi vay theo quy định đối với các hộ dân, chủ trang trại, hợp tác xã gặp khó khăn tạm thời trong sản xuất, kinh doanh và trả nợ ngân hàng;

(ii) TCTD xem xét khoanh nợ 03 năm đối với các hộ dân, chủ trang trại, hợp tác xã có nợ quá hạn do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng mà không có khả năng trả nợ.

Bên cạnh đó, NHNN đã có công văn số 3623/NHNN-TD ngày 28/5/2014 hướng dẫn các TCTD triển khai thực hiện Quyết định số 540/QĐ-TTg. Đồng thời ban hành Thông tư 26/2014/TT-NHNN hướng dẫn việc tái cấp vốn để hỗ trợ nguồn vốn cho các TCTD khoanh nợ trong 3 năm cho các hộ dân, chủ trang trại, hợp tác xã nuôi cá tra. Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho ngành cá tra theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Văn bản số 1149/TTg-KTN và Quyết định 540/QĐ-TTG được đánh giá là kịp thời, các TCTD cũng khẩn trương ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện trong toàn hệ thống từ đó giúp các hộ gia đình, doanh nghiệp phần nào vượt qua khó khăn, tiếp tục được vay mới lãi suất thấp để phục vụ sản xuất, kinh doanh.

- Ngoài ra, để trực tiếp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh (trong đó có lĩnh vực sản xuất chế biến cá fillet từ nguyên liệu cá da trơn), NHNN đã chỉ đạo NHNN chi nhánh 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và các TCTD tích cực triển khai Chương trình kết nối giữa ngân hàng với doanh nghiệp. Theo đó, ngành Ngân hàng phối hợp với các cấp chính quyền địa phương tổ chức các cuộc gặp gỡ, đối thoại trực tiếp với từng doanh nghiệp, hộ dân để nắm bắt khó khăn, vướng mắc của khách hàng từ đó có biện pháp tháo gỡ phù hợp như hạ lãi suất cho vay, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, nâng hạn mức tín dụng, cho vay mới lãi suất thấp,... NHNN cũng đã có văn bản gửi Bí thư tỉnh ủy, Chủ tịch UBND các tỉnh, thành phố đề nghị phối hợp tạo điều kiện để TCTD triển khai tốt chương trình.

Như vậy, thời gian qua Chính phủ và NHNN đã có nhiều chính sách, giải pháp hỗ trợ sản xuất, kinh doanh đối với ngành cá tra. Tuy nhiên, các hộ dân, doanh nghiệp ngành sản xuất, chế biến cá da trơn vẫn còn gặp khó khăn trong tiếp cận vốn, nguyên nhân do: (i) Về khách quan như: thiên tai, dịch bệnh, tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế thế giới, bị hạn chế xuất khẩu bởi các rào cản kỹ thuật thương mại của các nước nhập khẩu thủy sản Việt Nam,...; (ii) Về chủ quan (nội tại của ngành thủy sản) như: sản xuất chưa phù hợp với quy hoạch, việc cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp dẫn đến uy tín và chất lượng sản phẩm ngày càng giảm sút, môi trường và cơ hội đầu tư bị hạn chế, doanh nghiệp khó tìm phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, tình hình tài chính không lành mạnh... đã gây ra những khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng.

Do vậy, NHNN cũng đề nghị các Hiệp hội như Hiệp hội thủy sản Việt Nam, Hiệp hội cá tra Việt Nam... cần có sự quan tâm hỗ trợ doanh nghiệp và người nuôi trong thời gian tới; xem xét đề xuất các giải pháp hiệu quả, khả thi để ngành sản xuất chế biến cá fillet từ nguyên liệu cá da trơn phát triển bền vững, tránh sự hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước dẫn đến vi phạm các cam kết của WTO.

Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp nêu trên đối với ngành sản xuất chế biến cá fillet từ nguyên liệu cá da trơn. Đồng thời, sẽ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ đẩy mạnh việc cho vay thí điểm theo chuỗi liên kết (hiện nay đang triển khai tại 2 tỉnh sản xuất chế biến cá da trơn lớn là Đồng Tháp, An Giang) từ đó tạo ra định hướng đầu tư tín dụng theo chuỗi sản xuất chế biến cá da trơn khép kín từ khâu sản xuất, chế biến, tiêu thụ phù hợp với quy hoạch, nhu cầu thị trường, tránh rủi ro cho người nuôi cá tra, tạo thương hiệu và phát triển bền vững ngành sản xuất chế biến cá da trơn Việt Nam.

2. Về tăng trưởng tín dụng năm 2014

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ nhằm tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho TCTD mở rộng tín dụng có hiệu quả phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong năm 2014, NHNN đã tổ chức triển khai nhiều giải pháp như: (i) Sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn để đảm bảo cân đối vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh; (ii) Điều chỉnh giảm mạnh các mức lãi suất điều hành, trần lãi suất cho vay VND đối với một số lĩnh vực ưu tiên góp phần giảm mặt bằng lãi suất hỗ trợ sản xuất, kinh doanh; (iii) Ban hành các chính sách tín dụng đặc thù, chính sách đối với các lĩnh vực ưu tiên và triển khai các chương trình cho vay liên kết như thí điểm cho vay liên kết 4 nhà trong lĩnh vực xây dựng, giao thông và chương trình cho vay thí điểm theo Nghị quyết số 14/NQ-CP ngày 05/3/2014 của Chính phủ trong sản xuất nông nghiệp; (iv) Chỉ đạo các TCTD thực hiện các giải pháp như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét miễn giảm lãi vốn vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các hợp đồng tín dụng đã ký trước đây xuống mức lãi suất cho vay hiện hành; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh; đổi mới quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn, nhưng không trái với quy định của pháp luật; xem xét và quyết định xử lý đối với các khoản nợ đến hạn mà khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ như miễn, giảm lãi vay, không thu lãi quá hạn, ưu tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau...; không xem xét các điều kiện về các khoản nợ cũ khi khách hàng vay vốn mới có dự án, phương án kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo thu hồi được nợ; phối hợp chặt chẽ với các TCTD khác và làm việc với khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong trường hợp nhiều TCTD cùng cho vay đối với 01 khách hàng;...

Nhờ đó, đến ngày 30/9/2014, tín dụng tăng 7,26% so với cuối năm 2013; dự kiến tăng trưởng tín dụng cả năm 2014 sẽ đạt được mức khoảng 12-14% như kế hoạch đề ra; cơ cấu tín dụng tiếp tục được chuyển dịch theo hướng tích cực, tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ, trong đó, tính đến cuối tháng 8/2014, tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn tăng 6,1% so với cuối năm 2013, tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 4,14%, tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 15,78%, công nghiệp hỗ trợ tăng 6,06%.

Tín dụng các tháng đầu năm tăng thấp một phần do tính quy luật hàng năm, nhu cầu vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh còn thấp và yếu tố sức cầu còn yếu, nhưng tín dụng các tháng gần đây đã có biểu hiện được cải thiện hơn. Thời gian tới, NHNN tiếp tục tập trung chỉ đạo triển khai các giải pháp tín dụng để hỗ trợ tăng trưởng tín dụng phục vụ phát triển kinh tế-xã hội theo mục tiêu của Chính phủ, đồng thời kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng để giảm nợ xấu; các giải pháp chủ yếu là:

- Tiếp tục thực hiện các giải pháp đã và đang triển khai trong thời gian qua, như: Tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, sẵn sàng hỗ trợ thanh khoản cho các TCTD thông qua nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn để đảm bảo cân đối vốn phục vụ phát triển sản xuất, kinh doanh; chỉ đạo các TCTD tập trung ưu tiên vốn tín dụng cho các lĩnh vực ưu tiên, đảm bảo đủ nguồn vốn tín dụng để cho vay thu, mua, tạm trữ lúa, gạo để hỗ trợ cho nông dân; triển khai chương trình cho vay thí điểm mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất, các mô hình sản xuất áp dụng khoa học và công nghệ cao, các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu với lãi suất hợp lý theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ tại Nghị quyết phiên họp thường kỳ tháng 2/2014 và tại Hội nghị về sản xuất và tiêu thụ lúa, gạo vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

- Tiếp tục triển khai mạnh mẽ, hiệu quả chương trình kết nối ngân hàng-doanh nghiệp trên toàn quốc, trong đó NHNN chi nhánh phối hợp với các sở, ngành, hiệp hội ngành nghề ở địa phương chủ động tìm hiểu những khó khăn của doanh nghiệp liên quan đến nhu cầu về vốn, mức lãi suất...; trên cơ sở đó, NHNN chi nhánh thực hiện kiểm tra, rà soát nhu cầu vốn thực tế và chỉ đạo các NHTM trên địa bàn chủ động tìm và hỗ trợ tín dụng cho từng nhu cầu cụ thể.

- Tiếp tục chỉ đạo các NHTM nhà nước đẩy mạnh triển khai chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP của Chính phủ.

- Triển khai sản phẩm tín dụng cho vay liên kết 4 nhà trong lĩnh vực xây dựng bao gồm ngân hàng - chủ đầu tư - nhà thầu - nhà cung cấp nhằm gắn kết nhà sản xuất, nhà cung cấp, nhà thầu, nhà đầu tư, tạo điều kiện hạ giá thành sản phẩm, đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng, góp phần lưu thông hàng hóa, giải quyết lượng hàng tồn kho.

Bên cạnh các giải pháp của hệ thống ngân hàng, tiếp tục cần sự phối hợp đồng bộ từ phía các Bộ, ngành để triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chủ trương của Chính phủ, như: Các giải pháp chính sách vĩ mô khác trong việc đẩy mạnh giải ngân, thanh toán vốn đầu tư xây dựng cơ bản, giải ngân vốn từ nguồn phát hành TPCP cũng như tăng cường hiệu quả của việc sử dụng nguồn vốn này để tăng thanh khoản vào nền kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong điều kiện lạm phát còn thấp, tín dụng ngân hàng chưa tăng cao; tạo điều kiện cho các dự án FDI triển khai và hoạt động, khẩn trương hoàn thiện các thủ tục cam kết và bố trí đủ vốn đối ứng để giải ngân vốn ODA. Bộ Công Thương, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp chặt chẽ với NHNN trong việc xây dựng các quy định liên quan đến xác định đối tượng cho vay, nhu cầu vốn, nguồn vốn, các cơ chế về xử lý rủi ro trong các chương trình tín dụng liên kết trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp, các mô hình sản xuất áp dụng khoa học và công nghệ cao, các mô hình liên kết trong chuỗi sản xuất sản phẩm nông nghiệp xuất khẩu… Các địa phương tích cực triển khai mô hình kết nối doanh nghiệp với sự tham gia hỗ trợ nguồn vốn của chính quyền địa phương để cùng với ngân hàng thực hiện cho vay theo các chương trình bình ổn giá.

3. Về xử lý nợ xấu

Kể từ cuối năm 2008, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu và những khó khăn nội tại tích tụ từ lâu của nền kinh tế trong nước làm cho môi trường kinh doanh gặp rất nhiều khó khăn, chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Nợ xấu gia tăng tác động tiêu cực đến ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành chính sách tiền tệ và phát triển kinh tế cũng như an toàn hoạt động ngân hàng. Vì vậy, giảm nợ xấu là nhiệm vụ quan trọng được Đảng, Chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo xử lý trong giai đoạn hiện nay. Xác định việc xử lý nợ xấu của các TCTD là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng đến năm 2015, góp phần thực hiện thành công mục tiêu cơ cấu lại hệ thống các TCTD, đồng thời tạo nền tảng cho sự phát triển an toàn, bền vững của hệ thống đến năm 2020, NHNN đã chủ động xây dựng và trình Bộ Chính trị, Chính phủ phê duyệt Đề án ”Xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD” và Đề án ”Thành lập Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam (VAMC)”.

Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 843/QĐ-TTg phê duyệt 02 Đề án nêu trên, ngành Ngân hàng đã tổ chức triển khai quyết liệt, khẩn trương các giải pháp để kiểm soát và đẩy lùi nợ xấu. Trên cơ sở đánh giá thực trạng nợ xấu và nguyên nhân dẫn đến nợ xấu, Đề án xử lý nợ xấu đưa ra 5 nhóm giải pháp tổng thể xử lý nợ xấu và phòng ngừa, hạn chế nợ xấu gia tăng trong tương lai cần triển khai từ nay đến năm 2015, gồm: nhóm giải pháp đối với TCTD, nhóm giải pháp đối với khách hàng của TCTD, nhóm giải pháp về cơ chế chính sách, nhóm giải pháp về thanh tra, giám sát và giải pháp thành lập VAMC; với sự tham gia rộng rãi của hệ thống các TCTD, khách hàng vay vốn và các cấp, các ngành, chính quyền các địa phương.

Về phía ngành Ngân hàng, NHNN và các TCTD đã chủ động triển khai các giải pháp kiềm chế nợ xấu gia tăng, nâng cao chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu, đồng thời hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các biện pháp xử lý nợ xấu được triển khai bao gồm cơ cấu lại nợ, thu nợ, xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ, sử dụng dự phòng rủi ro, tiết giảm chi phí, hạn chế tăng lương, thưởng, thù lao, chia cổ tức, lợi nhuận để tập trung trích lập dự phòng rủi ro, bán nợ xấu cho VAMC.

Từ năm 2012 đến tháng 8/2014, hệ thống các TCTD xử lý được tổng cộng khoảng 214 nghìn tỷ đồng nợ xấu (trong đó: năm 2012 tổng số nợ xấu được xử lý là 69,9 ngàn tỷ đồng, năm 2013 là 97,7 ngàn tỷ đồng và trong 8 tháng đầu năm 2014 là 46,4 nghìn tỷ đồng). Từ khi thành lập đến cuối tháng 9/2014, VAMC đã mua nợ xấu của các TCTD với tổng dư nợ gốc là 82,8 nghìn tỷ đồng, giá mua hơn 68 nghìn tỷ đồng và đã bán được hơn 1,4 nghìn tỷ đồng nợ xấu. Điều đó cho thấy những giải pháp xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng trong thời gian vừa qua đã đem lại kết quả quan trọng bước đầu là nợ xấu đã được xử lý một bước, tốc độ tăng nợ xấu chậm lại, doanh nghiệp tiếp tục được vay vốn ngân hàng với lãi suất hợp lý góp phần giảm bớt chi phí hoạt động cho khách hàng vay do không phải chịu lãi suất phạt quá hạn và được vay với lãi suất thấp hơn. Đây là các giải pháp thực sự có ý nghĩa đối với cả doanh nghiệp và ngân hàng.

Như vậy, nợ xấu của hệ thống ngân hàng đã được NHNN xác định đúng bản chất thực và các giải pháp xử lý nợ xấu đề ra tại Quyết định 843 là hoàn toàn phù hợp. Kết quả xử lý nợ xấu đạt được đến nay tiếp tục ghi nhận sự cố gắng của hệ thống các TCTD, nhất là trong điều kiện không có sự hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước; cơ chế, chính sách còn nhiều hạn chế, bất cập và nền kinh tế còn nhiều khó khăn. Điều này cũng thể hiện các giải pháp xử lý nợ xấu được ngành Ngân hàng triển khai quyết liệt, có hiệu quả. Mô hình hoạt động của VAMC chưa từng có tiền lệ bước đầu phát huy hiệu quả tích cực trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD và hỗ trợ khó khăn cho khách hàng, khẳng định tính đúng đắn của việc lựa chọn công cụ này trong việc xử lý nợ xấu của hệ thống TCTD.

Để tiếp tục triển khai có hiệu quả việc xử lý nợ xấu, trong thời gian tới, NHNN sẽ tập trung chỉ đạo triển khai các nội dung sau:

- Chỉ đạo các TCTD triển khai nghiêm túc Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 của Thống đốc NHNN quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng, Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 của Thống đốc NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 nhằm đánh giá chính xác hơn nợ xấu đối với các NHTM theo chuẩn mực phân loại nợ mới để có giải pháp xử lý phù hợp.

- Chỉ đạo các TCTD chủ động triển khai các giải pháp tự xử lý nợ xấu như đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý, thu nợ; bán nợ xấu cho các công ty quản lý tài sản, mua bán nợ; Kiểm soát chặt chẽ và tiết giảm chi phí hoạt động để tích cực trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu; Triển khai các giải pháp hạn chế nợ xấu phát sinh trong tương lai và các biện pháp nghiệp vụ khác để che giấu nợ xấu hoặc làm sai lệch chất lượng tín dụng.

- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát và kiểm toán độc lập về chất lượng tín dụng, nợ xấu theo kế hoạch đề ra. Trên cơ sở kết quả thanh tra, kiểm toán về nợ xấu, triển khai mạnh mẽ các giải pháp xử lý nợ xấu. Thực hiện giám sát thường xuyên diễn biến nợ xấu và việc triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu. Kiên quyết áp dụng các giải pháp xử lý đối với TCTD cố tình che giấu nợ xấu, không thực hiện nghiêm túc các giải pháp xử lý nợ xấu.

- Tích cực nghiên cứu, xây dựng, trình Chính phủ Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định số 53/2013/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của VAMC, theo hướng: (i) tăng cường quyền hạn và chủ động cho VAMC trong việc xử lý nợ xấu: (ii) Từng bước triển khai phương thức mua bán nợ xấu theo cơ chế thị trường; (iii) Nghiên cứu bổ sung nguồn lực tài chính cho VAMC để thực hiện mua, bán nợ xấu theo cơ chế thị trường và triển khai các hoạt động bảo lãnh, đầu tư, hỗ trợ tài chính cho khách hàng vay hoàn thiện dự án đầu tư có tính khả thi.

- Phối hợp các Bộ, ngành liên quan đẩy nhanh việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về mua, bán, xử lý nợ, tài sản đảm bảo, cơ chế hoạt động của VAMC nhằm đẩy mạnh hoạt động mua, bán, xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm để VAMC thực sự trở thành công cụ đặc biệt của Nhà nước nhằm góp phần xử lý nhanh nợ xấu. Tiếp tục tạo môi trường thông thoáng, đặc biệt là cơ sở pháp lý cho việc xử lý, bán nợ, tài sản bảo đảm tiền vay theo hướng trao quyền chủ động nhiều hơn cho VAMC và các TCTD trong việc thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đi đôi với việc tăng cường tính minh bạch, công khai trong bán, xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm.

- Triển khai các biện pháp tăng cường quản lý và thực hiện chặt chẽ, thận trọng theo chủ trương của Chính phủ, NHNN về công tác cấp phép, mở rộng mạng lưới NHTM theo đúng quy định, gắn với việc thực hiện Đề án cơ cấu lại các TCTD. Trường hợp TCTD không tích cực xử lý nợ xấu có thể bị NHNN hạn chế tăng trưởng tín dụng, mở chi nhánh, phòng giao dịch và cung ứng dịch vụ ngân hàng mới.

Tuy nhiên, chỉ với những cố gắng của ngành Ngân hàng trong xử lý nợ xấu là chưa đủ bởi vì nợ xấu là vấn đề của nền kinh tế đòi hỏi cần có sự tham gia, hỗ trợ tích cực của các cơ quan, bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, đặc biệt trong việc phục hồi, hỗ trợ sản xuất kinh doanh, xử lý hàng tồn kho, xử lý nợ trong xây dựng cơ bản, thúc đẩy đầu tư, tiêu dùng, tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản,... Nếu các giải pháp nêu trên không được triển khai đồng bộ thì việc xử lý nợ xấu không triệt để và không đạt kết quả như mong muốn. Trong quá trình triển khai Quyết định số 843, NHNN đã tổng hợp báo cáo Thủ tướng Chính phủ các khó khăn vướng mắc và đề xuất, kiến nghị các giải pháp nhằm đẩy nhanh và có hiệu quả Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD.

Từ kết quả xử lý nợ xấu đạt được cùng với việc tiếp tục quyết liệt triển khai các giải pháp xử lý nợ xấu của ngành Ngân hàng và sự phối hợp đồng bộ, tích cực của các Bộ ngành, địa phương, NHNN tin tưởng rằng nợ xấu sẽ được đưa về mức an toàn (dưới 3%) đến cuối năm 2015 như mục tiêu đã đề ra.

Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Trần Trí Dũng. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trân trọng cảm ơn và mong tiếp tục nhận được sự quan tâm, ủng hộ của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động của ngành Ngân hàng.


  • aA
  • Categories:
  • Thống đốc NHNN trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội
OTHER NEWS
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Lã Thanh Tân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Hoàng Bảo Trân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Văn Quân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Quang Huân gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Lân Hiếu gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Hà Sỹ Đồng gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/03/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Quản Minh Cường gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/01/2027
Trả lời kiến nghị của Đại biểu Quốc hội Bùi Xuân Thống gửi tới Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/10/2026
Trả lời kiến nghị của cử tri tỉnh Hưng Yên gửi tới sau Kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV
01/08/2026
Showing 1 to 10 of 170
  • 1
  • 2
  • 3
  • 17
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready