Cụm từ công nghệ được dùng phổ biến trong nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống - xã hội. Công nghệ được nhắc đến như là sự cố gắng tìm kiếm ra những quy trình, phương thức mới cho các hoạt động của loài người. Bài viết tóm tắt những thành phần của công nghệ và mối liên hệ phát triển của các thành phần công nghệ và đưa ra một số đề xuất.
Theo Các Mác: “Công nghệ là một phức hợp những kiến thức khoa học và kỹ thuật về các phương thức và phương pháp sản xuất, tổ chức và quản lý sản xuất và như vậy nó chủ yếu chỉ liên quan đến quá trình sản xuất. Công nghệ bộc lộ mối liên hệ tích cực của con người với thiên nhiên, đó là qúa trình trực tiếp tạo ra cuộc sống của con người và đồng thời cả những điều kiện xã hội và những khái niệm tinh thần bắt nguồn từ những điều kiện trên”.
UNIDO (Tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên Hợp Quốc) định nghĩa: “Công nghệ là sự áp dụng khoa học vào công nghiệp, bằng cách sử dụng các kết quả nghiên cứu và xử lý một cách có hệ thống và có phương pháp’’
ESCAP (Uỷ ban Kinh tế Xã hội châu Á - Thái Bình Dương) đưa ra định nghĩa: “Công nghệ là hệ thống kiến thức về quy trình và kỹ thuật dùng để chế biến vật liệu và thông tin”
Trong cách hiểu phổ thông, công nghệ là tổng hợp của trí tuệ, kỹ năng của con người, thiết bị và cơ cấu tổ chức cần thiết để làm ra những sản phẩm, dịch vụ có ích. Trước kia, người ta hiểu công nghệ theo nghĩa hẹp là các máy móc thiết bị, đó chỉ là một trong các thành phần công nghệ.
Các thành phần cơ bản của công nghệ
Thứ nhất: Phần kỹ thuật (Technologogy - T), bao gồm các phương tiện vật chất cần thiết cho sản xuất, ví dụ như máy móc, dụng cụ, các thiết bị trong dây chuyền... phần này được coi là phần vật chất cốt lõi của bất kỳ sự chuyển đổi đối tượng lao động nào.
Thứ hai: Phần con người (Human - H) là kỹ năng và kinh nghiệm của con người làm chủ công nghệ, nó bao gồm năng lực sáng tạo, sử dụng phần kỹ thuật một cách khéo léo về thao tác và tư duy tổ chức vận hành, hệ thống thông tin. Đây là phần chủ chốt của bất kỳ thao tác vận hành công nghệ. Con người là nguồn gốc của mọi sáng tạo, nền kinh tế tri thức trong tương lai, chất xám, trí tuệ của con người tác động nhanh, có sức mạnh quyết định các quá trình chuyển đổi phát triển.
Thứ ba: Phần thông tin (Information - I), bao gồm các tài liệu mà bản thân phần vật chất của kỹ thuật của công nghệ không mang lại thông tin; ví dụ như sơ đồ quy trình công nghệ, bản thiết kế, các bảng tính, công thức, phương trình biểu đồ lý thuyết, các thao tác chuyển đổi, các mẫu mã, phần mềm hỗ tr,... Phần này do con người tạo ra và sử dụng có ý nghĩa trong việc đào tạo, nghiên cứu phát triển. Đây cũng là phần được bảo mật.
Thứ tư: Phần tổ chức (Organization - O), là sự bố trí và mối liên hệ con người với con người về thông tin, máy móc, thiết bị trong sản xuất. Nó bao gồm sơ đồ cơ cấu tổ chức cho các hoạt động, loại hình công ty, ví dụ như phân công nhân sự, thiết lập các quy tắc vận hành, phương pháp quản lý công nghệ, quản lý chất lượng, nội quy làm việc...
Mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ
Bất cứ một sự đổi mới công nghệ nào cũng cần sự phối hợp hoạt bốn thành phần cơ bản của công nghệ: T, thành phần vật chất cốt lõi của công nghệ, khi nó thay đổi thì các thành phần H, I, O cũng phải tương thích mới có ý nghĩa. Thành phần T là những vật chất cụ thể song nó “vô hồn” nếu như các thành phần khác không tương xứng, ví dụ, máy tính không có phần mềm sẽ không sử dụng được... H, làm cho công nghệ hoạt động và không ngừng cải tiến. H đóng vai trò chủ động nhưng lại chịu sự chi phối của I và O. H có kỹ năng song có thể không phát huy được trong một O không tương thích hoặc không có thiết bị sử dụng. I, thể hiện tri thức con người tích luỹ qua các thế hệ. Máy móc ngày càng hiện đại càng chứa đựng nhiều I, làm cho việc sử dụng nó sản xuất ra nhiều sản phẩm khác nhau về chủng loại, chất lượng, năng suất. I được coi là bí quyết của một công nghệ, là sức mạnh mà con người sử dụng phải hiểu biết nó, phải có cơ cấu tổ chức để làm chủ nó. Các thiết bị có thể mất đi do hao mòn, nhưng thông tin, tri thức, kiến thức còn lưu giữ dạng tài liệu hay ở trong tri thức con người vẫn có cơ sở phát triển. O, công nghệ nào cũng do con người, vì con người do vậy mà nó đòi hỏi tổ chức phải phối hợp các thành phần của công nghệ, công nghệ càng hiện đại càng phải có tổ chức khoa học, tạo động lực. Điều này giải thích vì sao mà cùng một dây chuyền công nghệ, nguồn nhân lực với kỹ năng tương đương, các bí quyết được cung cấp như nhau mà mỗi dây chuyền cho hiệu quả khác nhau. Khoa học quản lý nhân sự, quản lý dự án với những vị trí nhân sự cao cấp đã chỉ ra tầm quan trọng của thành phần O.
Mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ được truyền dẫn qua các kênh liên hệ, còn gọi là phần ướt (wet) của công nghệ, (sơ đồ 1).
Sơ đồ 1: mối quan hệ giữa các thành phần công nghệ
Với ý nghĩa con người là trung tâm, phần ướt (wet) được hiểu như là sự có mặt của con người trong các thành phần công nghệ để tạo ra mối quan hệ tích cực nhất khi vận hành công công nghệ. Nói cách khác, các thành phần công nghệ đều hướng vào lợi ích của con người trong dây chuyền công nghệ và con người ngoài dây chuyền công nghệ.
Có nhiều phương pháp đánh giá công nghệ để tính ra hàm lượng (số %) của từng thành phần công nghệ trong giá thành sản phẩm, khá phức tạp mà nhiều khi các tính toán có thể đưa ra các nhận định sai lệch về vị trí mỗi thành phần. Bốn thành phần có thể được ví như bốn cạnh của hình tứ giác mà diện tích là số đo về trình độ công nghệ. Khi các cạnh lớn và ít chênh lệch (tiến tới hình vuông) tức là diện tích lớn nhất, điều tuyệt đối này chỉ là lý thuyết. Việc điều chỉnh các cạnh để tăng diện tích với chi phí nhỏ nhất là lựa chọn công nghệ thích hợp. Việc chia diện tích tứ giác thành 4 tam giác phát triển chính là quá trình phối hợp của mỗi thành phần công nghệ (hình 1).
Bảng 1: công nghệ là hệ thống biến đổi đầu vào, ra
Chênh lệch giá trị đầu vào, đầu ra được gọi là giá trị gia tăng (theo phương pháp sản xuất) thể hiện hàm lượng công nghệ, cấp độ chế biến tinh xảo của công nghệ... hoặc nhận biết về chất xám hay hàm lượng tri thức trong sản phẩm.
Cùng đầu vào như nhau sẽ cho đầu ra khác nhau hoặc ngược lại, điều này do cấp độ hiện đại của công nghệ và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp. Về cơ bản, nguyên tắc này xuyên suốt các quá trình biến đổi các nguồn lực đầu vào. Nó có ý nghĩa trong quá trình điều chỉnh cơ cấu nguồn gốc, chất lượng và giá trị đầu vào, điều chỉnh các thành phần công nghệ để phân chia lợi ích gia tăng giữa các bên tham gia hoàn chỉnh sản phẩm một cách trung thực hơn.
Tính hiện vật và giá trị của công nghệ và vòng đời
Bốn thành phần của công nghệ có đầy đủ giá trị và giá trị sử dụng, tính hiện vật và phi hiện vật. Vòng đời của các thành phần công nghệ như các sản phẩm tiêu dùng khác đều diễn ra theo đồ thị hình chữ S: thấp - tăng dần - chín muồi - giảm rồi chuyển sang chu kỳ mới. Doanh nghiệp có thể chia vòng đời chung của công nghệ làm 6 giai đoạn: tìm ra công nghệ mới có thể áp dụng; sản xuất thử, tiếp thị sản phẩm; lập dự án sản xuất quy mô thích hợp; áp dụng và phát triển trong sản xuất; công nghệ chín muồi, sử dụng đại trà trên thị trường; công nghệ lỗi thời, hết khả năng cạnh tranh.
Các công nghệ lỗi thời với chu kỳ ngày càng ngắn, phần vật chất T chuyển sang tái chế, nhưng phần thông tin vẫn được lưu giữ làm tài liệu nghiên cứu công nghệ mới. Trong cuộc chạy đua công nghệ, những nước tạo ra công nghệ nguồn có nhiều ưu thế, một mặt họ đưa công nghệ mới nhất cho các dự án đầu tư mới, mặt khác xuất hiện nhóm trung gian xuất khẩu công nghệ cũ kiếm lời, ngăn chặn cạnh tranh trong một thời gian nhất định. Do vậy, dự án đầu tư cần kiểm chứng giá trị và vòng đời của công nghệ thuộc thế hệ nào?
Một số đề xuất cho doanh nghiệp Việt Nam
Tỷ trọng nhập khẩu nhóm máy móc, phương tiện vận tải và phụ tùng giảm từ 30% năm 2001 xuống 14,3% năm 2011; nhóm nguyên, nhiên, vật liệu (bán thành phẩm) tăng từ 61% lên 76%; tổng nhóm tư liệu sản xuất luôn ở mức trên 90%. Số liệu này cho thấy, chúng ta chưa nhập được công nghệ cao, nhưng lại nhập rất nhiều bán thành phẩm bởi không có công nghệ đủ sức cạnh tranh với các nước sản xuất bán thành phẩm.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020 đã được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đề ra: giá trị sản phẩm công nghệ cao và sản phẩm ứng dụng công nghệ cao đạt khoảng 45% trong tổng GDP. Giá trị sản phẩm công nghiệp chế tạo chiếm khoảng 40% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp... Yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng trưởng đạt khoảng 35%; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 2,5 - 3%/năm… Chỉ tiêu kế hoạch 5 năm 2011-2015 của đất nước: Năng suất lao động đến năm 2015 tăng 29-32% so với năm 2010, tỷ lệ đổi mới công nghệ đạt 13%/năm, tỷ trọng sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 30% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp thì các doanh nghiệp cần có kế hoạch đầu tư đổi mới công nghệ theo hướng: rà soát lại công nghệ đang sử dụng, loại bỏ ngay công nghệ lạc hậu, gây ô nhiễm; lên kế hoạch đầu tư, bổ sung vào công nghệ hiện có, mua công nghệ mới; đào tạo nguồn nhân lực mới; tìm kiếm các công nghệ nguồn; dự kiến tổng vốn đầu tư và cơ cấu nguồn vốn, thời gian đầu tư.
TS Nguyễn Mạnh Hùng - Bộ Công thương
(cnth theo thnh)