Ngày 27/4/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 46/2010/NĐ-CP quy định về thôi việc và thủ tục nghỉ hưu đối với công chức.
Theo đó, nguyên tắc thực hiện thôi việc, nghỉ hưu phải đảm bảo công khai, minh bạch; Tuân thủ thẩm quyền và trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật; Đảm bảo quyền của công chức yêu cầu cơ quan, tổ chức, đơn vị (CQ-TC-ĐV) có thẩm quyền xem xét tính hợp pháp của quyết định thôi việc, nghỉ hưu.
Theo Nghị định, có 2 trường hợp công chức được hưởng chế độ thôi việc. Thứ nhất là theo nguyện vọng và được CQ-TC-ĐV có thẩm quyền đồng ý. Thứ hai là do công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của Luật Cán bộ, Công chức.
Trường hợp công chức xin thôi việc theo nguyện vọng, phải làm đơn gửi CQ-TC-ĐV có thẩm quyền xem xét. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận đơn, CQ-TC-ĐV có thẩm quyền phải ra quyết định thôi việc bằng văn bản nếu đồng ý, còn nếu không đồng ý cho công chức thôi việc thì cũng phải có văn bản trả lời và nêu rõ lý do.
Trường hợp thôi việc do công chức có 2 năm liên tiếp không hoàn thành nhiệm vụ, trong thời gian 30 ngày kể từ ngày có kết quả phân loại đánh giá công chức, CQ-TC-ĐV có thẩm quyền thông báo bằng văn bản đến công chức đó về việc giải quyết thôi việc đến công chức, trừ trường hợp khác quy định tại Luật Công chức. Cũng với thời hạn 30 ngày kể từ ngày có thông báo bằng văn bản, CQ- TC- ĐV ra quyết định thôi việc đối với công chức. Kể từ ngày quyết định thôi việc được ban hành, CQ-TC-ĐV phải có trách nhiệm thanh toán trợ cấp thôi việc đối với công chức trong thời hạn 30 ngày.
Việc trợ cấp thôi việc được tính như sau: Cứ mỗi năm làm việc được tính bằng 1/2 tháng lương hiện hưởng gồm: mức lương theo ngạch, bậc, phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề và hệ số chênh lệch bảo lưu lương (nếu có). Mức trợ cấp thấp nhất bằng 1 tháng lương hiện hưởng.
Thời gian làm việc được tính trợ cấp là tổng thời gian tính theo năm có đóng bảo hiểm xã hội chưa nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp phục viên. Nếu thời gian làm việc có tháng lẻ được tính bằng 1/2 năm làm việc nếu người đó đủ từ 3 đến đủ 6 tháng làm việc; từ trên 6 tháng đến 12 tháng thì được tính bằng 1 năm làm việc. Trường hợp dưới 3 tháng lẻ sẽ không được tính.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định về thủ tục nghỉ hưu của công chức. Theo đó, thời điểm nghỉ hưu là ngày 01 của tháng liền kề sau tháng công chức đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định. Trường hợp trong hồ sơ của công chức không ghi rõ ngày, tháng sinh trong năm thì thời điểm nghỉ hưu là ngày 01 tháng 01 của năm liền kề sau năm công chức đủ tuổi nghỉ hưu.
Thời điểm nghỉ hưu được lùi không quá 01 tháng khi thời điểm nghỉ hưu trùng với ngày nghỉ Tết Nguyên đán; công chức có vợ, hoặc chồng, bố, mẹ (vợ hoặc chồng), con bị từ trần, bị tòa án tuyên bố mất tích; bản thân hoặc gia đình công chức bị thiệt hại do thiên tai, địch họa, hỏa hoạn.
Thời điểm nghỉ hưu được lùi không quá 3 tháng khi công chức bị bệnh nặng hoặc bị tai nạn có giấy xác nhận của bệnh viện; lùi không quá 6 tháng đối với trường hợp đang điều trị bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y tế ban hành, có giấy xác nhận của bệnh viện.
Công chức được lùi thời điểm nghỉ hưu nếu thuộc nhiều trường hợp quy định nêu trên thì chỉ được thực hiện theo quy định đối với một trường hợp có thời gian lùi thời điểm nghỉ hưu nhiều nhất.
Trước 06 tháng tính đến thời điểm nghỉ hưu, CQ-TC-ĐV quản lý công chức phải ra thông báo bằng văn bản về thời điểm nghỉ hưu để công chức biết. Nghị định cũng nêu rõ, những người được Đảng, Nhà nước điều động, phân công và những người được tuyển dụng, bổ nhiệm theo chỉ tiêu biên chế được giao làm việc trong tổ chức chính trị xã hội-nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- nghề nghiệp cũng được áp dụng Nghị định này.
ĐA