Tại Phiên họp thường kỳ tháng 8 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Phương - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Bình.
Câu hỏi:
- Tình hình nợ xấu tăng cao thời gian qua gây tâm lý lo ngại trong 1 bộ phận nhân dân, tạo rào cản trong việc vay vốn của các doanh nghiệp, làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
- Thời gian qua lãi suất tăng cao, gần đây lãi suất có giảm nhưng vẫn ở mức cao, ngân hàng thu lãi lớn, trong lúc doanh nghiệp khó khăn, làm ăn thua lỗ, nhiều doanh nghiệp bị phá sản, để lại nhiều hậu quả nặng nề cho nền kinh tế - xã hội của quốc gia.
- Nghị quyết 80/NQ-CP của Chính phủ về “Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011/2020”, trong mục 15, phần tổ chức thực hiện, Chính phủ giao cho: “Ngân hàng Nhà nước chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng, trình ban hành chính sách tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số ở xã, thôn bản”. Hơn 1 năm nhưng văn bản chưa được ban hành, chính sách ưu đãi trên đối với hộ cận nghèo không được áp dụng.
Trách nhiệm của Thống đốc đối với các vấn đề trên và hướng giải quyết trong thời gian tới?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trả lời đại biểu Nguyễn Ngọc Phương như sau:
1. Về thực trạng và giải pháp xử lý nợ xấu
Từ năm 2008 đến nay, nợ xấu của các tổ chức tín dụng có xu hướng tăng nhanh. Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 202.099 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ tín dụng. Thực trạng này do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:
- Kể từ cuối năm 2008, do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu nên môi trường kinh doanh trong nước gặp rất nhiều khó khăn. Những khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh đã làm cho chất lượng tín dụng suy giảm và nợ xấu tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng[1]. Đặc biệt, từ năm 2011 đến nay, tổng cầu của nền kinh tế giảm mạnh, tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn, hàng tồn kho lớn, thị trường bất động sản đóng băng, năng lực tài chính của doanh nghiệp giảm sút... làm cho tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng năm 2011 chậm lại đáng kể và 5 tháng đầu năm 2012 không tăng nhưng nợ xấu tăng tới 45,5%.
- Công tác quản trị, điều hành của nhiều tổ chức tín dụng còn bất cập. Chiến lược tăng trưởng tín dụng nhanh trong khi năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng còn nhiều hạn chế và chậm được cải thiện, đặc biệt là các ngân hàng thương mại cổ phần chuyển đổi từ nông thôn lên đô thị dẫn đến nợ xấu tăng nhanh hơn dư nợ tín dụng.
- Năng lực thanh tra, giám sát ngân hàng của Ngân hàng Nhà nước còn hạn chế, chưa phát huy hiệu lực, hiệu quả trong việc phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm và rủi ro trong hoạt động tín dụng của các tổ chức tín dụng, nhất là các vi phạm quy định về hạn chế cấp tín dụng và việc đầu tư quá mức vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao.
Để khắc phục những khó khăn, tồn tại, hạn chế chủ quan và khách quan, từng bước xử lý nợ xấu một cách bền vững, hạn chế nợ xấu gia tăng, Ngân hàng Nhà nước đã và đang chỉ đạo triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Về phía Ngân hàng Nhà nước: (i) Rà soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp tín dụng và an toàn hoạt động ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng; (ii) Tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo đảm các tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quy định về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quy định về an toàn hoạt động tín dụng; (iii) Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ.
Về phía các tổ chức tín dụng: (i) Chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ và xem xét giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời, có chiều hướng cải thiện sản xuất kinh doanh tích cực, được đánh giá có khả năng trả nợ theo thời gian cơ cấu lại nợ; (ii) Tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật. Đẩy nhanh tiến độ bán, xử lý các tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu để thu hồi vốn.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để triển khai một số giải pháp hỗ trợ khác, bao gồm: (i) Tích cực phối hợp với các Bộ, ngành phân tích, đánh giá hoạt động của các ngành, lĩnh vực để xây dựng, triển khai các chương trình tín dụng phù hợp, đẩy nhanh tiến độ giải phóng hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Từ đó có cơ sở để các tổ chức tín dụng giảm nợ xấu; (ii) Phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công an đẩy nhanh tiến độ xây dựng văn bản hướng dẫn các quy định về xử lý tài sản bảo đảm; Chỉ đạo xử lý dứt điểm các vụ việc, vụ án có liên quan đến hoạt động ngân hàng để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ, giảm nợ xấu và có cơ sở để mở rộng tín dụng cho nền kinh tế; (iii) Tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp này; (iv) Phối hợp với các Bộ, ngành và địa phương có giải pháp khẩn trương hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
2. Về vấn đề lãi suất cao, phản ánh ngân hàng thu lãi lớn trong khi doanh nghiệp khó khăn, làm ăn thua lỗ, nhiều doanh nghiệp phá sản:
2.1. Về vấn đề lãi suất:
Trước bối cảnh lạm phát tăng cao và rủi ro bất ổn kinh tế vĩ mô gia tăng, bám sát chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với các bộ, ngành, địa phương điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng và phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa thắt chặt để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an sinh xã hội. Việc thực thi chính sách tiền tệ chặt chẽ, thận trọng đã góp phần quan trọng làm giảm dần tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng trong năm 2011 và tập trung được nguồn vốn cho lĩnh vực sản xuất – kinh doanh.
Bên cạnh những kết quả tích cực, chính sách tiền tệ chặt chẽ cũng tác động làm tăng mặt bằng lãi suất huy động và cho vay VND, phần nào gây khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Từ cuối năm 2011 đến nay, trước những dấu hiệu tích cực của lạm phát và các cân đối vĩ mô, Ngân hàng Nhà nước đã liên tục điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành, quy định trần lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên, đề nghị các tổ chức tín dụng điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với các khoản dư nợ trước đây về mức tối đa 15%/ năm để góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ thị trường. Nhờ đó, đến nay mặt bằng lãi suất chovay đã được duy trì ở mức hợp lý vàgiảm 3-6%/năm so với cuối năm 2011. Đến ngày 02/8/2012, tỷ trọng dư nợ cho vay với lãi suất trên 15%/năm trong tổng dư nợ của hệ thống ngân hàng đã giảm từ mức 65% xuống còn 29,1% (giảm khoảng 60% so với tỷ trọng trước ngày 15/7/2012), trong đó, lãi suất giảm mạnh nhất ở nhóm 5 ngân hàng thương mại nhà nước từ mức 61% xuống 6,9% (giảm khoảng 87% so với tỷ trọng trước ngày 15/7/2012).
Trong thời gian tới, ngân hàng tiếp tục đề nghị ngân hàng thương mại cổ phần phối hợp với các doanh nghiệp rà soát các khoản vay cũ để có thể giảm lãi suất cho vay về mức tối đa 15%/năm. Bên cạnh đó, nếu lạm phát tiếp tục giảm, Ngân hàng Nhà nước sẽ cân nhắc điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành đảm bảo hài hòa lợi ích giữa người gửi tiền, người vay và tổ chức tín dụng.
2.2. Về lợi nhuận của các tổ chức tín dụng:
Qua đánh giá, theo dõi, phân tích của Ngân hàng Nhà nước trong nhiều năm cho thấy, lợi nhuận của hệ thống ngân hàng không lớn và nằm ở nhóm doanh nghiệp có thu nhập trung bình của Việt Nam. Chính vì vậy, trên thị trường chứng khoán, giá cổ phiếu của các ngân hàng đang thấp hơn so với nhiều doanh nghiệp kinh doanh trong các lĩnh vực khác.
Trong bối cảnh nợ xấu của tổ chức tín dụng đang có xu hướng gia tăng như hiện nay và các tổ chức tín dụng đang thực hiện điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với các khoản dư nợ trước đây về mức tối đa 15%/ năm, lợi nhuận của các ngân hàng trong năm 2012 sẽ giảm đáng kể so với năm 2011 và các năm trước đây. Theo số liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước, đến cuối tháng 6/2012, chênh lệch thu nhập – chi phí lũy kế của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng đã giảm mạnh so với năm 2011, trong đó, một số tổ chức tín dụng có kết quả kinh doanh lỗ.
3. Về ban hành văn bản hướng dẫn Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020
Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh tại công văn số 291/VPCP-KTTH ngày 13/1/2012 của Văn phòng Chính phủ, đối tượng hộ nghèo và các đối tượng chính sách, trong đó có chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng khó khăn, tiếp tục được Ngân hàng Chính sách xã hội cho vay theo quy định tại Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002. Đối với 61 huyện nghèo, thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Thông tư 06/2009/TT-NHNN ngày 9/4/2009 quy định chi tiết về chính sách cho vay ưu đãi lãi suất theo Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững theo. Hiện nay, Ngân hàng Chính sách xã hội đang thực hiện cho vay 21 chương trình với tổng dư nợ lên tới 107.762 tỷ đồng.
Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ngày 28/3/2012, số hộ cận nghèo chiếm 6,98% tổng số hộ gia đình trong cả nước và bằng 59,2% số hộ nghèo, vì vậy việc ban hành chính sách cho vay ưu đãi đối với hộ cận nghèo cần được nghiên cứu kỹ trên cơ sở cân đối các nguồn lực tài chính của Nhà nước và đảm bảo tính hiệu quả, phù hợp. Hiện nay, Ngân hàng Nhà nước đang khẩn trương hoàn thiện dự thảo văn bản hướng dẫn cho vay đối tượng này để gửi xin ý kiến của các Bộ, ngành liên quan trước khi trình Chính phủ quyết định.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Phương. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.
[1] Trong giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng bình quân là 26,56% nhưng tốc độ tăng trưởng nợ xấu bình quân ở mức 51%.