Tại Phiên họp thường kỳ tháng 8 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Trương Minh Hoàng - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Cà Mau.
Câu hỏi:
Số thực tế tình trạng nợ xấu đến thời điểm hiện tại? Theo Thống đốc có nguy cơ vỡ nợ không? Thống đốc đã có những phương án gì để khống chế, không phát sinh nợ xấu mới và những biện pháp xử lý khối nợ xấu hiện nay.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trả lời đại biểu Trương Minh Hoàng như sau:
1. Về thực trạng nợ xấu:
Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước, đến ngày 31/3/2012 nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 202.099 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ tín dụng. Nguyên nhân số liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước cao hơn so với báo cáo của các tổ chức tín dụng là do: (i) Ngân hàng Nhà nước thực hiện chuyển nhóm nợ theo đúng quy định hiện hành (Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007) nhưng một số tổ chức tín dụng không thực hiện đúng quy định về phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu trong báo cáo tài chính thấp hơn thực tế để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro; (ii) các tiêu chí phân loại nợ theo quy định hiện hành có bao gồm tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng do năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng không đồng đều, nên việc sử dụng các tiêu chí định tính trong phân loại nợ có thể dẫn đến sự khác nhau về nhóm nợ trong xác định và ghi nhận nợ xấu của tổ chức tín dụng[1].
Mặc dù nợ xấu của các tổ chức tín dụng hiện nay khá lớn và đang có chiều hướng tăng nhưng phần lớn các khoản nợ xấu được bảo đảm bằng tài sản, nhờ đó tổ chức tín dụng có thể thu hồi được một phần hoặc toàn bộ khoản nợ xấu từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm[2]. Bên cạnh đó, tính đến cuối tháng 5/2012, các tổ chức tín dụng đã trích lập dự phòng rủi ro tương đương 57,18% tổng nợ xấu[3]. Như vậy, tài sản bảo đảm của khách hàng tại tổ chức tín dụng và số tiền tổ chức tín dụng đã trích lập dự phòng rủi ro có khả năng bù đắp hầu hết số nợ xấu hiện nay. Cùng với sự chỉ đạo quyết liệt, thận trọng của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước đối với quá trình triển khai Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng, nhất là các tổ chức tín dụng yếu kém, nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng sẽ từng bước được kiểm soát và xử lý, nguy cơ đổ vỡ hệ thống từng bước được đẩy lùi.
2. Về giải pháp hạn chế và xử lý nợ xấu:
Để từng bước xử lý nợ xấu một cách bền vững, hạn chế nợ xấu gia tăng nhằm khơi thông dòng vốn trong hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng và hỗ trợ vốn tích cực cho nền kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã và đang chỉ đạo triển khai một số giải pháp sau:
Về phía Ngân hàng Nhà nước: (i) Rà soát, hoàn thiện các quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam, đồng thời nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung các quy định về cấp tín dụng và an toàn hoạt động ngân hàng nhằm tăng cường khả năng phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng; (ii) Tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo đảm các tổ chức tín dụng tuân thủ đúng các quy định về hoạt động ngân hàng, đặc biệt là quy định về cấp tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quy định về an toàn hoạt động tín dụng; (iii) Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ; (iv) Xây dựng phương án tổng thể xử lý nợ xấu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định trong thời gian sớm nhất.
Về phía các tổ chức tín dụng: (i) Chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ và xem xét giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có khó khăn tài chính tạm thời, có chiều hướng cải thiện sản xuất kinh doanh tích cực, được đánh giá có khả năng trả nợ theo thời gian cơ cấu lại nợ; (ii) Tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật; (iii) Đẩy nhanh tiến độ bán, xử lý các tài sản bảo đảm của các khoản nợ xấu để thu hồi vốn; (iv) Chú trọng công tác thẩm định khoản vay để hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn vốn.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng chủ động phối hợp với các Bộ, ngành liên quan để triển khai một số giải pháp hỗ trợ khác, bao gồm: (i) Tích cực phối hợp với các Bộ, ngành phân tích, đánh giá hoạt động của các ngành, lĩnh vực để xây dựng, triển khai các chương trình tín dụng phù hợp, đẩy nhanh tiến độ giải phóng hàng tồn kho, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh để làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng giảm nợ xấu; (ii) Phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Công an đẩy nhanh tiến độ xây dựng văn bản hướng dẫn các quy định về xử lý tài sản bảo đảm, chỉ đạo xử lý dứt điểm các vụ việc, vụ án có liên quan đến hoạt động ngân hàng để tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ, giảm nợ xấu và có cơ sở để mở rộng tín dụng cho nền kinh tế; (iii) Tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu của các doanh nghiệp này; (iv) Phối hợp với các địa phương hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Trương Minh Hoàng. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.
[1] Ví dụ, khoản nợ của khách hàng được tổ chức tín dụng A xếp vào nợ xấu nhưng lại không được tổ chức tín dụng B xếp vào nợ xấu. Theo quy định, tất cả các khoản vay khác của cùng khách hàng đó tại tất cả các tổ chức tín dụng khác phải được xếp vào cùng nhóm nợ xấu. Các tổ chức tín dụng có thể thiếu thông tin tín dụng về khách hàng hoặc có chủ ý không chuyển các khoản nợ đủ tiêu chuẩn “nợ xấu” sang nợ xấu dẫn đến các khoản nợ của khách hàng đó không được phân loại hợp lý và nợ xấu được ghi nhận thấp hơn mức thực tế.
[2] Tính đến cuối tháng 3/2012, trong tổng nợ xấu của các tổ chức tín dụng có 84,16% được bảo đảm bằng tài sản và tổng giá trị tài sản bảo đảm bằng 134,8% tổng nợ xấu.
[3] Tỷ lệ dự phòng rủi ro này cao hơn so với một số nước trên thế giới như Albania (51,8%), Croatia (41,3%), Hungary (45%), Montenegro (32,8%), Ấn Độ (55,2%),…