Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Hà Thị Lan - Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Bắc Giang.
Câu hỏi:
1. Trong thời gian vừa qua, việc quản lý tiền tệ của một số NHTM bộc lộ nhiều sai phạm gây nhiều dư luận không tốt. Với tư cách là Thống đốc NHNN giúp Chính phủ quản lý nhà nước đối với hoạt động tiền tệ, đề nghị Thống đốc cho biết trách nhiệm của mình trong hoạt động quản lý nhà nước về tiền tệ? Thống đốc đã có những tác động gì trước một số sai phạm trong ngành NH và có giải pháp gì nhằm khắc phục việc quản lý tiền tệ trong thời gian tới đây?
2. Tình hình nợ xấu của hệ thống NH hiện nay đang gây khó khăn cho nền kinh tế, kìm hãm sự phát triển của đất nước. Tỷ lệ về nợ xấu của ngân hàng, hiện nay có nhiều số liệu khác nhau, vì sao lại có tình trạng này? Với tư cách là Thống đốc NHNN, đề nghị ông cho Quốc hội biết tỉ lệ nợ xấu tại thời điểm này và bản chất nợ xấu trong nền kinh tế của ngân hàng hiện nay. Đề nghị Thống đốc cho biết trách nhiệm của NHNN, những giải pháp lớn trong Đề án xử lý nợ xấu?
3. Đề nghị Thống đốc cho biết lộ trình thực hiện cơ cấu lại tổ chức NHTM và các TCTD trong thời gian tới?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Hà Thị Lan như sau:
1- Về sai phạm trong ngành Ngân hàng và giải pháp khắc phục:
Trong thời gian gần đây, cùng với những khó khăn của nền kinh tế, những sai phạm và yếu kém của các NHTM, kể cả NHTM Nhà nước đã bộc lộ và ảnh hưởng không nhỏ tới sự an toàn, hiệu quả hoạt động và uy tín của ngành Ngân hàng. Nhiều vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật đã để lại hậu quả kinh tế không nhỏ cho hệ thống ngân hàng1. Nguyên nhân xảy ra những vụ việc vi phạm pháp luật và những yếu kém tại các NHTM có nhiều, bao gồm nguyên nhân chủ quan2 và nguyên nhân khách quan3, nhưng trách nhiệm trước hết thuộc về Hội đồng quản trị, ban điều hành của các NHTM đã để xảy ra vi phạm, đồng thời NHNN cũng có trách nhiệm trong công tác quản lý, thanh tra, giám sát chưa có hiệu quả để xảy ra các yếu kém, vi phạm tồn tại kéo dài và chậm được phát hiện, xử lý kịp thời trong hoạt động tiền tệ, ngân hàng và các tổ chức tín dụng.
Đối với những tồn tại, yếu kém trong hệ thống ngân hàng, ngay từ cuối năm 2011, NHNN đã nhận định, đánh giá và áp dụng các giải pháp xử lý quan trọng như:
- Tăng cường công tác thanh tra, giám sát ngân hàng để bảo đảm tuân thủ nghiêm quy định pháp luật về tiền tệ, ngân hàng và kỷ cương, kỷ luật trên thị trường tiền tệ; phát hiện và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, các rủi ro và yếu kém của TCTD. Trong đó, năm 2012, NHNN đã tiến hành đồng bộ phương thức thanh tra toàn diện pháp nhân gần 32 TCTD, qua đó đã phát hiện ra nhiều vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và buộc NHTM phải tái cơ cấu.
- Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng phát hiện và xử lý các vụ việc tiêu cực, vi phạm pháp luật nhằm lập lại trật tự kỷ cương trong hoạt động tiền tệ ngân hàng, như xử lý vi phạm quy định về lãi suất, hoạt động ngoại tệ và vàng, uỷ thác, cho vay sai mục đích dẫn đến thất thoát vốn,…
- Triển khai đồng bộ các giải pháp chấn chỉnh, củng cố và cơ cấu lại các TCTD nêu tại Đề án cơ cấu các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được Bộ Chính trị thông qua và Thủ tướng Chính phủ ban hành tại Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012.Theo đó, các NHTM sẽ được tái cơ cấu trên tất cả các mặt về tài chính, hoạt động và pháp nhân, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hoá các NHTM nhà nước; tăng tính minh bạch và công khai trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng.
- Rà soát, sửa đổi và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về tiền tệ và hoạt động ngân hàng nhằm hạn chế các cơ hội cho các hành vi tiêu cực trong hệ thống ngân hàng. Theo đó, các chuẩn mực an toàn hoạt động hàng sẽ được nâng cao hơn nữa và hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ trong các NHTM sẽ phải được tăng cường. Trong quý IV/2012, NHNN sẽ ban hành các quy chế mới về an toàn hoạt động ngân hàng như tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ bảo đảm khả năng chi trả, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro,…
- Tăng cường công tác giáo dục, đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp và ý thức chính trị của cán bộ ngân hàng; đẩy mạnh các triển khai các giải pháp đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng; tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về tiền tệ, ngân hàng trong xã hội và trong ngành ngân hàng.
2- Về tình hình nợ xấu và giải pháp xử lý:
2.1.Về thực trạng nợ xấu: Đến ngày 30/6/2012, nợ xấu theo các tổ chức tín dụng báo cáo là 119.139 tỷ đồng, chiếm 4,49% so với tổng dư nợ tín dụng. Tuy nhiên, số liệu nợ xấu do tổ chức tín dụng báo cáo chưa chính xác. Theo kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6/2012 chiếm khoảng 8,8% tổng dư nợ tín dụng.
- Nguyên nhân nợ xấu có nhiều số liệu khác nhau:
Thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước đã công khai, minh bạch số liệu nợ xấu của hệ thống ngân hàng (định kỳ công bố trên Website của Ngân hàng Nhà nước). Hiện nay có 2 hệ thống số liệu nợ xấu, một là từ báo cáo của các tổ chức tín dụng và hai là số liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước. Sở dĩ có sự khác biệt giữa 2 con số này là do: (i) Ngân hàng Nhà nước thực hiện chuyển nhóm nợ theo đúng quy định hiện hành trong khi một số tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu trong báo cáo tài chính thấp hơn thực tế để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro; (ii) các tiêu chí phân loại nợ theo quy định hiện hành có bao gồm tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng do năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng không đồng đều, nên việc sử dụng các tiêu chí định tính trong phân loại nợ có thể dẫn đến sự khác nhau về nhóm nợ khi xác định và ghi nhận nợ xấu của tổ chức tín dụng. Chính vì vậy, gần đây Ngân hàng Nhà nước đã công bố cả số liệu nợ xấu theo kết quả thanh tra, giám sát để thấy được thực chất của nợ xấu.
Ngoài ra, các tổ chức quốc tế cũng đưa ra những đánh giá, nhận định về nệ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam và những số liệu này thường cao hơn là do: Các tổ chức quốc tế chủ yếu dựa trên kết quả đánh giá của một số ngân hàng được chọn mẫu hoặc ngoại suy. Con số ước đoán của các tổ chức quốc tế rất khó có căn cứ để đánh giá mức độ tin cậy; họ không giải thích cụ thể tiêu chí phân loại nợ; cũng không công bố quy mô mẫu chọn.
- Bản chất nợ xấu ngân hàng trong nền kinh tế:
Kể từ năm 2005, Nhà nước ban hành nhiều quy định mới về quản trị rủi ro, an toàn hoạt động ngân hàng và quản lý tín dụng, đặc biệt là quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, nhờ đó đã góp phần hạn chế nợ xấu gia tăng và xử lý được một phần nợ xấu phát sinh. Tuy nhiên, quy mô nợ xấu đến nay lớn và tỷ lệ nợ xấu so với tổng dư nợ tăng nhanh cho thấy nợ xấu của các TCTD tiềm ẩn và đã được tích lũy trong một thời gian dài, đặc biệt là thời kỳ nới lỏng chính sách kinh tế vĩ mô để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhanh. Từ Quý IV/2011 trở lại đây, lộ xấu bắt đầu lộ diện khi môi trường kinh doanh xấu đi, tín dụng tăng chậm và Chính phủ triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại các TCTD.
Nợ xấu của hệ thống ngân không phải là vấn đề riêng của hệ thống ngân hàng và không phải chỉ do hệ thống ngân hàng gây ra. Nợ xấu là vấn đề kinh tế vĩ mô và phát sinh do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Bản chất của nợ xấu hệ thống ngân hàng hiện nay gắn liền với tình trạng trì trệ kinh tế, đọng vốn trong sản xuất kinh doanh, hàng tồn kho và thị trường bất động sản trầm lắng. Nợ xấu chủ yếu tập trung ở các ngành kinh tế gặp nhiều khó khăn như vận tải, công nghiệp chế biến, chế tạo, bất động sản, bán buôn, bán lẻ, dịch vụ.
2.2. Một số giải pháp đã và đang được triển khai nhằm xử lý và hạn chế nợ xấu gia tăng:
Xử lý nợ xấu là một trong những nội dung quan trọng trong Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Một số giải pháp sau đây đã và sẽ được triển khai nhằm xử lý nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng:
- Giải pháp về cơ chế, chính sách:
+ Ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 cho phép các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ nếu TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt sau khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ. Thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN, đến ngày 30/6/2012 có 36,5 ngàn tỷ đồng dư nợ tín dụng được cơ cấu lại và giữ nguyên nhóm nợ. Giải pháp này đã giúp giảm bớt áp lực trả nợ, lãi phạt và tăng khả năng tiếp cận vay vốn ngân hàng đối với khách hàng vay.
+ Chỉ đạo các TCTD về việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp, trong đó yêu cầu các TCTD: (i) xem xét cấp tín dụng hợp vốn theo quy định tại Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của NHNN đối với các dự án lớn có hiệu quả; (ii) tích cực thực hiện các giải pháp xử lý nợ, thực hiện mua bán nợ theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21/2/2006 của NHNN, báo cáo NHNN các khoản nợ muốn mua/bán nhưng chưa tìm được đối tác.
+ Điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ và lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng, góp phần giúp doanh nghiệp và nền kinh tế tiếp tục vận hành và tăng trưởng, từ đó góp phần đảm bảo nguồn tài chính cho doanh nghiệp và hạn chế sự gia tăng của nợ xấu.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng; xây dựng quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn và mở rộng phạm vi tài sản có tiềm ẩn rủi ro tín dụng phải phân loại và trích lập dự phòng rủi ro để phản ánh đầy đủ hơn thực trạng nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng (dự kiến ban hành trong quý IV/2012). Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng (các tỷ lệ an toàn, uỷ thác và nhận uỷ thác,...) nhằm hạn chế rủi ro cho các TCTD.
+ Chỉ đạo các TCTD tích cực phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu thông qua sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm.
+ Tăng cường công tác thanh tra, giám sát các TCTD trong việc thực hiện các giải pháp cơ cấu lại, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và chấp hành các quy định pháp luật về hoạt động ngân hàng. Qua công tác thanh tra các TCTD trong năm 2012, NHNN đã buộc các TCTD phải thực hiện phân loại nợ, trích lập đầy đủ dự phòng đầy đủ để tạo nguồn xử lý nợ xấu, đồng thời yêu cầu ngân hàng vi phạm giới hạn tập trung tín dụng phải thu hồi nợ đã góp phần tạo nguồn mở rộng tín dụng cho các đối tượng khác.
- Các giải pháp về phía các TCTD:
+ Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp;
+ Chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có triển vọng tốt sau cơ cấu lại nợ để khách hàng giảm bớt khó khăn tài chính tạm thời và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo nguồn thu mới trả nợ TCTD.
+ Tích cực xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ để thu hồi vốn, giảm nợ xấu. Tiếp tục đầu tư, cho vay đối với khách hàng có nợ xấu do khó khăn tạm thời nhưng có triển vọng phục hồi và phát triển tốt; Chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp vay, đồng thời tham gia cơ cấu lại doanh nghiệp.
+ Tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật. Tính đến cuối tháng 8/2012, số dự phòng rủi ro đã được các TCTD trích lập chưa sử dụng là 72.907 tỷ đồng, tăng hơn 14 ngàn tỷ đồng so với cuối năm 2011. Trong 8 tháng đầu năm 2012, số nợ xấu được các TCTD xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro là gần 8 ngàn tỷ đồng.
Trong thời gian tới, các TCTD tích cực phối hợp với khách hàng vay thực hiện cơ cấu lại nợ, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu, bán nợ cho các tổ chức, đặc biệt là bán nợ cho các công ty mua bán nợ và công ty quản lý tài sản.
- Các giải pháp hỗ trợ:
Hiện nay, để hỗ trợ xử lý nợ xấu, NHNN đang xây dựng, trình Bộ Chính trị, Chính phủ Đề án thành lập công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu một cách tập trung với quy mô lớn, trong đó tập trung xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản. Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương sẽ phối hợp triển khai thêm các giải pháp hỗ trợ xử lý nợ xấu như:
- Các Bộ, ngành và địa phương cần triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường, giảm lượng hàng tồn kho, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, kích thích đầu tư và tiêu dùng trong nước, đồng thời có giải pháp hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
- Đối với một số khoản vay thế chấp bằng bất động sản, công trình sắp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được, Chính phủ xem xét mua lại các bất động sản đó để phục vụ cho mục đích an sinh xã hội và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
- Các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ các TCTD hoàn thiện các hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay để sớm xử lý nợ xấu của các TCTD. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi nợ nhanh chóng, thuận tiện. Đổi mới, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để bảo vệ quyền chủ nợ của TCTD và giúp TCTD thu hồi tài sản sớm nhất.
- Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ.
- Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với NHNN xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế, phí liên quan đến mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay của TCTD. Bộ Tài chính xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt phương án xử lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
- Tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu và lành mạnh hoá tài chính của các doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh có nhiều khó khăn, song nhờ chủ động triển khai kịp thời các chính sách, biện pháp ngăn chặn và xử lý nợ xấu của NHNN và các TCTD, nợ xấu có chiều hướng tăng chậm lại từ quý II/20124.
3- Về lộ trình cơ cấu lại ngân hàng thương mại:
Với mục tiêu cơ cấu lại căn bản, triệt để và toàn diện hệ thống các TCTD để đến năm 2020 phát triển được hệ thống các TCTD đa năng theo hướng hiện đại, hoạt động an toàn, hiệu quả, vững chắc, trên cơ sở quán triệt nghiêm túc Kết luận số 10-KL/TW ngày 18/10/2011 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, và chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã xây dựng, trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án ”Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” với lộ trình cụ thể như sau:
- Năm 2011-2012:
+ Đánh giá, xác định thực trạng hoạt động, chất lượng tài sản và nợ xấu của các tổ chức tín dụng;
+ Tiến hành đánh giá và phân loại tổ chức tín dụng;
+ Xây dựng và triển khai phương án cơ cấu lại tổ chức tín dụng yếu kém và tổ chức tín dụng khác;
+ Tập trung hỗ trợ thanh khoản để bảo đảm khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng;
+ Hoàn thành căn bản phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng của các ngân hàng thương mại nhà nước (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam);
+ Triển khai sáp nhập, hợp nhất, mua lại tổ chức tín dụng;
+ Tăng vốn điều lệ và xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng;
+ Cơ cấu lại hoạt động và hệ thống quản trị.
Kết quả dự kiến: Khả năng chi trả của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản được bảo đảm, đồng thời xác định, kiểm soát được tình hình của tổ chức tín dụng yếu kém để làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cơ cấu lại ở giai đoạn sau.
+ Hoàn thành sửa đổi, bổ sung các quy định an toàn hoạt động ngân hàng;
+ Tiếp tục triển khai lành mạnh hóa tài chính của các tổ chức tín dụng, bao gồm xử lý nợ xấu và tăng vốn điều lệ;
+ Triển khai cơ cấu lại hoạt động và quản trị;
+ Hoàn thành căn bản cơ cấu lại sở hữu, pháp nhân của ngân hàng thương mại cổ phần yếu kém;
+ Hoàn thành cơ cấu lại các công ty tài chính và công ty cho thuê tài chính.
Kết quả dự kiến: Nguy cơ đổ vỡ hệ thống các tổ chức tín dụng được loại bỏ. Các tổ chức tín dụng yếu kém được xử lý về cơ bản. Kỷ cương, kỷ luật trong lĩnh vực ngân hàng được lập lại và củng cố.
- Năm 2014:
+ Hoàn thành căn bản cơ cấu lại tài chính của tổ chức tín dụng;
+ Các tổ chức tín dụng đáp ứng đầy đủ mức vốn điều lệ thực và các chuẩn mực, giới hạn an toàn hoạt động ngân hàng theo quy định pháp luật;
+ Tiếp tục triển khai cơ cấu lại hoạt động và quản trị;
+ Tiếp tục sáp nhập, hợp nhất, mua lại theo nguyên tắc tự nguyện.
- Năm 2015: Hoàn thành cơ cấu lại hoạt động và quản trị.
Kết quả dự kiến: Tài chính và hoạt động kinh doanh được củng cố, chấn chỉnh và lành mạnh hóa; hệ thống quản trị được cải thiện một bước quan trọng. Các tổ chức tín dụng đáp ứng đủ các yêu cầu về vốn và tiêu chuẩn an toàn hoạt động ngân hàng.
Trong giai đoạn 2011-2012, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với các bộ, ngành địa phương chỉ đạo hệ thống ngân hàng tích cực triển khai các giải pháp đề ra trong lộ trình. Cụ thể:
- Triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại 9 ngân hàng thương mại yếu kém cần phải cơ cấu lại. Đến nay, 3 ngân hàng yếu kém đã tiến hành hợp nhất và xây dựng xong kế hoạch tái cơ cấu cho giai đoạn tiếp theo; 1 ngân hàng yếu kém đã xây dựng xong và đang tích cực triển khai phương án tự chấn chỉnh củng cố; 1 ngân hàng yếu kém đã hoàn thành việc sáp nhập vào ngân hàng khác; 4 ngân hàng còn lại đang khẩn trương xây dựng và hoàn thiện Phương án cơ cấu lại theo chỉ đạo của NHNN và các Bộ, ngành, địa phương liên quan để trình xin ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, làm cơ sở triển khai các bước xử lý tiếp theo.
Quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém được Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ thông qua các biện pháp nghiệp vụ, việc chi trả tiền gửi của dân cư tại các ngân hàng diễn ra bình thường, không xảy ra hiện tượng rút tiền hàng loạt với quy mô lớn, thanh khoản của các ngân hàng được cải thiện rõ rệt. Điều này cho thấy lòng tin của công chúng được duy trì ổn định, nguy cơ rủi ro gây mất an toàn hệ thống được giảm thiểu.
- Đẩy mạnh và hoàn thành căn bản cổ phần hóa và cơ cấu lại các Ngân hàng thương mại Nhà nước. Trong đó, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam và Ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông Cửu Long đã hoàn thành việc bán đấu giá cổ phiếu lần đầu ra công chúng và chuyển đổi loại hình hoạt động sang Ngân hàng thương mại cổ phần. Chỉ đạo Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam hoàn thiện Đề án cơ cấu lại Ngân hàng cùng với các công ty trực thuộc để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
- Chỉ đạo NHTM từng bước củng cố lại hoạt động, nâng cao năng lực quản trị điều hành, trong đó: (i) Tích cực cơ cấu lại nguồn vốn theo hướng nâng cao tỷ trọng nguồn vốn ổn định, có kỳ hạn dài hơn, giảm mức độ phụ thuộc vào nguồn vốn huy động từ thị trường liên ngân hàng; (ii) Từng bước chuyển dịch mô hình kinh doanh theo hướng giảm bớt sự phụ thuộc vào hoạt động tín dụng và tăng nguồn thu từ các hoạt động phi tín dụng; (iii) Tiếp tục hoàn thiện, hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin, rà soát, sắp xếp và tăng cường quản lý, giám sát hoạt động của hệ thống mạng lưới đảm bảo hoạt động có hiệu quả và giảm thiểu tối đa chi phí và rủi ro phát sinh; (iv) Rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, hoàn thiện hệ thống quản trị nội bộ, quản trị rủi ro, kiểm soát, kiểm toán nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật và tiệm cận dần các thông lệ, chuẩn mực quốc tế; (v) Kiện toàn đội ngũ cán bộ quản lý, điều hành cấp cao có đủ năng lực lãnh đạo, điều hành ngân hàng; rà soát, sắp xếp lại đội ngũ cán bộ chuyên môn và tích cực thu hút, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản trị, nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm và đạo đức nghề nghiệp.
Đến nay, ngành Ngân hàng đã cơ bản hoàn thành mục tiêu đề ra trong giai đoạn 2011-2012 là khả năng chi trả của toàn hệ thống các tổ chức tín dụng về cơ bản được bảo đảm, đồng thời xác định, kiểm soát được tình hình của tổ chức tín dụng yếu kém để làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cơ cấu lại ở giai đoạn sau.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Hà Thị Lan. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.