Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Đoàn Nguyễn Thùy Trang - Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi:
1. Trong phiên chất vấn cách đây 1 năm tại Kỳ họp thứ 2, Thống đốc có nói sẽ thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng, linh hoạt, bảo đảm kiểm soát lạm phát và đáp ứng yêu cầu tăng trưởng, kinh tế, nhu cầu vốn cho sản xuất của các doanh nghiệp và sản xuất nông nghiệp. Nhưng đến nay, dư nợ tín dụng chỉ tăng 3,36%, nền kinh tế sẽ tiếp tục suy giảm từ 5,89% (năm 2011) xuống còn 5,2% năm 2012, Thống đốc sẽ khắc phục lời cam kết này như thế nào?
2. Cũng tại phiên chất vấn trên, Thống đốc cũng hứa là không để giá vàng trong nước chênh lệch quá lớn so với giá thế giới, nhưng hiện nay, một năm rồi, giá vẫn chênh lệch lớn. Giải pháp và chính sách về quản lý vàng thời gian tới là như thế nào?
3. Tình trạng cạnh tranh lãi suất huy động vẫn diễn ra tại các ngân hàng vượt qua các quy định của NHNN, Thống đốc cũng hứa một năm rồi là sẽ xử lý nghiêm các hiện tượng tiêu cực trên. Đề nghị Thống đốc cho ý kiến về vấn đề này.
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Đoàn Nguyễn Thùy Trang như sau:
1. Về tăng trưởng tín dụng:
Bám sát Nghị quyết của Quốc hội, chỉ đạo của Chính phủ và diễn biến kinh tế vĩ mô, NHNN đã triển khai tích cực và quyết liệt các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm vừa đảm bảo kiểm soát lạm phát vừa tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, tính đến 31/10/2012, tín dụng đối với nền kinh tế mới tăng 3,48%. Tín dụng tăng trưởng thấp chủ yếu do nguyên nhân sau:
Về phía doanh nghiệp và người dân, do sức cầu trong nước và cầu nước ngoài yếu, hàng tồn kho tăng cao, khả năng tiêu thụ của thị trường khó khăn, nên doanh nghiệp giảm nhu cầu vay vốn; một số doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh gặp nhiều khó khăn, nên không đủ điều kiện vay vốn; người dân cũng hạn chế chi tiêu và giảm nhu cầu vay vốn tiêu dùng trong điều kiện kinh tế khó khăn.
Về phía các tổ chức tín dụng, sau một thời gian dài tăng trưởng tín dụng ở mức cao, đến nay, để thực hiện tái cơ cấu, các tổ chức tín dụng phải vừa tích cực huy động vốn, vừa giảm tốc độ tăng tín dụng để cơ cấu lại tài sản có, tài sản nợ theo hướng lành mạnh, đảm bảo quản trị tốt rủi ro, đảm bảo khả năng chi trả, nâng cao chất lượng hoạt động; các tổ chức tín dụng, nhất là ngân hàng thương mại cổ phần cẩn trọng hơn trong việc lựa chọn khách hàng mới, hạn chế cho vay đối với một số ngành nghề kinh doanh nhiều rủi ro; các tổ chức tín dụng kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay bằng ngoại tệ theo chủ trương chống đô la hóa của Chính phủ.
Trong thời gian tới, để tiếp tục tạo điều kiện cho doanh nghiệp và người dân vay vốn tín dụng ngân hàng hiệu quả, hệ thống ngân hàng triển khai đồng bộ, quyết liệt các giải pháp sau:
+ Về phía NHNN: (1) Theo dõi sát tình hình hoạt động của các doanh nghiệp theo các ngành kinh tế để đề xuất kịp thời các giải pháp về tiền tệ, tín dụng phù hợp với chủ trương và định hướng của Chính phủ; (2) Tiếp tục kiểm soát chặt chẽ hoạt động cho vay bằng ngoại tệ, trường hợp cần thiết có thể cân nhắc việc tiếp tục cho vay đối với nhu cầu vay vốn để thanh toán ra nước ngoài tiền nhập khẩu xăng dầu của các doanh nghiệp không có nguồn thu ngoại tệ và cho vay trong nước để thực hiện phương án sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu để tạo điều kiện thuận lợi và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp vay vốn bằng VND với chi phí thấp; (3) Đẩy nhanh các giải pháp xử lý nợ xấu trong hệ thống ngân hàng nhằm tăng khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống TCTD đối với nền kinh tế; (4) Khuyến khích các tổ chức tín dụng mở rộng triển khai gói sản phẩm tín dụng liên kết, như cho vay doanh nghiệp chế biến nhưng để trả tiền cho người bán nguyên liệu; cho vay người sản xuất để trả cho người cung cấp thức ăn…
+ Về phía TCTD: (1) Tiết kiệm chi phí để giảm lãi suất cho vay; (2) Tích cực chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, sử dụng nhiều lao động); (3) Rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ vốn vay; điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật; (4) Tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh; (5) Xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong những tháng cuối năm phù hợp với chủ trương mở rộng tín dụng hiệu quả của Chính phủ và NHNN...
Bên cạnh các giải pháp của NHNN, các bộ, ngành cần thực hiện quyết liệt và hiệu quả các các biện pháp theo chỉ đạo của Chính phủ tại Nghị quyết số 13/NQ-CP về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường; đồng thời thực hiện các biện pháp nhằm khơi thông dòng vốn như : (1) Bộ Công thương tiếp tục giám sát và triển khai có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn, nhất là biện pháp giúp doanh nghiệp giải quyết hàng tồn kho; (2) Bộ Tư pháp phối hợp chặt chẽ với NHNN và các bộ, ngành liên quan để sớm ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn các quy định về xử lý tài sản bảo đảm; đẩy nhanh tiến độ xử lý các vụ việc, vụ án có liên quan đến hoạt động ngân hàng để tạo điều kiện cho các TCTD xử lý tài sản bảo đảm, thu hồi nợ, giảm nợ xấu và có cơ sở để mở rộng tín dụng cho nền kinh tế; (3) Bộ Tài chính khẩn trương ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn ngân hàng thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn phục vụ sản suất-kinh doanh; (4) Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẩn trương nghiên cứu, đề xuất việc thành lập Quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa theo hướng giao cho Ngân hàng Phát triển quản lý Quỹ hoặc Bộ Kế hoạch và Đầu tư quản lý (5) Các Bộ, Ngành có giải pháp đồng bộ để tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản hướng tới người có nhu cầu thực về nhà ở, đồng thời điều chỉnh cơ cấu nhà ở thương mại với nhà ở xã hội, mở rộng đối tượng được mua nhà ở xã hội cũng như các điều kiện mua nhà ở xã hội khác.
Trong thời gian tới, với các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước và việc triển khai tích cực, có hiệu quả các giải pháp của các bộ, ngành theo chủ trương của Chính phủ tại Nghị quyết số 13/NQ-CP, hàng tồn kho được giải phóng, hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp dần phục hồi, thì tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đến cuối năm 2012 sẽ tăng trưởng ở mức hợp lý.
2. Về quản lý thị trường vàng:
Trước khi Nghị định 24/2012/NĐ-CP được ban hành, cơ sở pháp lý về quản lý thị trường vàng theo quy định tại Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 09/12/1999 còn nhiều bất cập, không có các quy định quản lý, kiểm soát hoạt động kinh doanh mua bán vàng miếng, vàng miếng được coi là hàng hóa thông thường, hoạt động mua, bán vàng miếng diễn ra phổ biến. Cả nước có 8 doanh nghiệp được cấp phép sản xuất vàng miếng, khoảng 12.000 doanh nghiệp kinh doanh vàng, do đó vàng miếng dần dần trở thành phương tiện thanh toán, khó quản lý. Khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới với mức chênh lệch khoảng 400 nghìn đồng/lượng, thường xuất hiện tình trạng nhập khẩu vàng lậu, từ đó gây ảnh hưởng bất lợi tới thị trường ngoại tệ, tỷ giá và kinh tế vĩ mô, Nhà nước phải tốn nhiều ngoại tệ nhập khẩu vàng để giảm bất ổn kinh tế vĩ mô và giảm áp lực phải điều chỉnh tỷ giá.
Trước bối cảnh đó, NHNN đã tham mưu và trình Chính phủ ban hành Nghị định 95/2011/NĐ-CP (Nghị định 95) ngày 20/10/2011 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, theo đó các hoạt động kinh doanh vàng trái phép sẽ bị cơ quan chức năng xử lý nghiêm khắc và ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP (Nghị định 24) vào ngày 03/4/2012 để thay thế Nghị định 174 về quản lý thị trường vàng.
Với chủ trương của Nhà nước về việc vàng miếng không phải là một mặt hàng thiết yếu, không được sử dụng làm phương tiện thanh toán, Nghị định 24 được ban hành nhằm mục tiêu tổ chức, sắp xếp lại một cách căn bản thị trường vàng miếng, đảm bảo khả năng điều tiết, nâng cao vai trò quản lý thị trường của Nhà nước ở mức cao nhất thông qua việc giao NHNN cấp phép đối với hoạt động kinh doanh mua, bán vàng miếng; tổ chức sản xuất vàng miếng và xuất khẩu, nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng.
Sau khi Nghị định 24 được ban hành, với sự kết hợp của Nghị định 95 và các biện pháp NHNN đã triển khai thực hiện, thị trường vàng trong nước có nhiều chuyển biến đáng kể so với trước kia. Mặc dù vẫn còn hiện tượng chênh lệch giữa giá vàng trong nước và thế giới nhưng giá vàng miếng là do cung cầu trên thị trường quyết định. Thực tế, việc giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới, có thể khẳng định người dân bán vàng trong thời gian qua được hưởng lợi. Trong khi đó, TCTD trước đây đã hưởng lợi từ việc sử dụng vàng huy động và đã hạch toán lãi vào các năm trước, đến nay phải chấp nhận chi phí khi mua lại vàng trên thị trường với giá cao. Mặt khác, sự biến động của giá vàng không ảnh hưởng tới tỷ giá, thị trường ngoại tệ và không gây bất ổn kinh tế vĩ mô, do đó Nhà nước không cần thiết phải nhập khẩu vàng để bình ổn giá.
Để đảm bảo các quyền hợp pháp của người dân đối với vàng miếng (như mua bán, nắm giữ, được bảo đảm an toàn thông qua dịch vụ giữ hộ của các TCTD) và việc mua, bán vàng miếng được diễn ra trên thị trường có tổ chức, NHNN sẽ khẩn trương tổ chức lại mạng lưới mua, bán vàng miếng thông qua việc cấp phép cho các doanh nghiệp và TCTD đáp ứng đủ các điều kiện thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng trên thị trường theo quy định tại Nghị định 24 và Thông tư 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 hướng dẫn một số điều của Nghị định 24.
Dự kiến NHNN sẽ tham gia thị trường với vai trò là người mua bán cuối cùng trên thị trường vàng miếng với các tổ chức được phép kinh doanh vàng miếng nhằm đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng Dự trữ Ngoại hối Nhà nước bằng vàng, phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ nhằm tăng vị thế của đồng Việt Nam. Đây là kênh chính để huy động nguồn lực vàng trong nền kinh tế nhằm mục tiêu chuyển hóa nguồn lực vàng, phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh góp phần đạt được các mục tiêu quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020.
3. Về vấn đề vượt trần lãi suất huy động:
Từ cuối năm 2011, NHNN đã sử dụng đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp nhằm kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc các TCTD chấp hành quy định trần lãi suất huy động. Đặc biệt ngày 7/9/2011, NHNN đã ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN quy định cụ thể hình thức xử phạt nghiêm khắc đối với cá nhân, tổ chức và người đứng đầu tổ chức vi phạm trần lãi suất huy động như yêu cầu các TCTD vi phạm kiểm điểm trách nhiệm và xử lý nghiêm đối với các tập thể, cá nhân có hành vi vi phạm, kể cả việc không cho phép các TCTD vi phạm được mở chi nhánh, phòng giao dịch, đặt máy ATM trên phạm vi toàn quốc trong vòng 01 năm kể từ ngày vi phạm. Sau khi ban hành Chỉ thị số 02/CT-NHNN, NHNN đã phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và đã xử lý nghiêm một số trường hợp vi phạm trần lãi suất huy động.
Kết quả là hiện tượng vi phạm trần lãi suất cho vay đã giảm xuống, mặt bằng lãi suất huy động giảm và ổn định ở mức thấp (trong 10 tháng đầu năm, lãi suất huy động VND giảm 3-5%/năm). Trong tháng 10, tháng 11 vừa qua, có hiện tượng một số TCTD triển khai một số sản phẩm tiền gửi áp dụng lãi suất huy động vượt trần quy định của Ngân hàng Nhà nước. Nguyên nhân là do mặc dù thanh khoản của hệ thống đã được cải thiện nhưng chưa vững chắc và chưa đồng đều, vẫn còn một số TCTD có khó khăn cục bộ tại một số thời điểm do tác động tâm lý khi chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2012 tăng cao nên chuẩn bị lo thanh khoản cho quý IV/2012.
Việc một số tổ chức tín dụng vượt trần lãi suất huy động có ảnh hưởng không thuận lợi đến diễn biến hoạt động thị trường tiền tệ và mặt bằng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố tăng cường giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về lãi suất của các tổ chức tín dụng, có biện pháp xử lý, chấn chỉnh kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm (ngày 9/11/2012, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 06/CT-NHNN về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng ngân hàng trong những tháng cuối năm 2012 và đầu năm 2013). Để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, đảm bảo an toàn và thanh khoản của các TCTD; tiếp tục thực hiện thanh tra giám sát, kiểm tra chấp hành lãi suất của các tổ chức tín dụng.
Do hiện nay các ngân hàng vi phạm quy định về lãi suất dưới các hình thức hết sức tinh vi, vì vậy, NHNN rất mong Đại biểu Quốc hội và cử tri phối hợp chặt chẽ với NHNN để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Đoàn Nguyễn Thùy Trang. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.