Tại Kỳ họp thứ 3, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Bé - Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Kiên Giang.
Câu hỏi:
Kết quả tổ chức thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP? Giải pháp tạo điều kiện cho nông dân các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn theo nghị định, được xem xét cho vay không có bảo đảm bẳng tài sản?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Nguyễn Thị Kim Bé như sau:
1. Về kết quả tổ chức thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP:
Ngay sau khi Chính phủ ban hành Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, ngành Ngân hàng đã phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện việc tuyên truyền, phổ biến đầy đủ, kịp thời và triển khai mạnh mẽ chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn đến các hội viên, tổ chức, cá nhân thuộc đối tượng vay vốn.
Để khuyến khích hệ thống ngân hàng tập trung vốn và giảm chi phí cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều cơ chế chính sách ưu đãi đối với các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay lĩnh vực này. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND thấp hơn so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cao1; hàng năm, dành lượng tiền cung ứng để tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn phù hợp với mục tiêu, biện pháp điều hành chính sách tiền tệ; các khoản cho vay tái cấp vốn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được Ngân hàng Nhà nước ưu tiên về thời hạn và nguồn vốn cho vay, so với các lĩnh vực khác.
Với những giải pháp quyết liệt nhằm triển khai Nghị định 41/2010/NĐ-CP, dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đã tăng lên đáng kể. Nếu như dư nợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn năm 2009 mới đạt 292.919 tỷ đồng thì đến cuối năm 2010, con số này là 381.994 tỷ đồng và đến cuối năm 2011, đã tăng lên mức 499.056 tỷ đồng2. Tính đến hết quý I/2012 dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn đã đạt 509.230 tỷ đồng, tăng 2,04% so với cuối năm 2011, trong khi tốc độ tăng dư nợ chung của nền kinh tế ở mức âm (-) 1,29%.
Trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước sẽ tiếp tục có các biện pháp khuyến khích các tổ chức tín dụng tập trung vốn cho vay nông nghiệp, nông thôn, nhất là các lĩnh vực nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp. Trong đó, Ngân hàng Nhà nước sẽ tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan cũng như các Ban chỉ đạo miền Tây Nam Bộ, Tây Bắc... chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vốn cho vay chương trình xây dựng nông thôn mới, nhất là cho vay đối với nhu cầu nâng cao quá trình cơ giới hoá và áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước sẽ lấy Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn làm trụ cột trong cho vay lĩnh vực này với mục tiêu đạt tỷ trọng dư nợ tín dụng phục vụ nông nghiệp và nông thôn của năm 2012 từ 75 – 80% tổng dư nợ; Yêu cầu tất cả các tổ chức tín dụng khác phải đạt tỷ trọng dư nợ nông nghiệp, nông thôn ít nhất khoảng 20% tổng dư nợ; Những tổ chức tín dụng không có điều kiện cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn thì dành một lượng vốn tương ứng để uỷ thác cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho vay lĩnh vực này.
2. Về việc tạo điều kiện cho nông dân các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP:
Theo quy định tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP, hộ gia đình, hộ kinh doanh trên địa bàn nông thôn, cá nhân, chủ trang trại, hợp tác xã, tổ hợp tác được tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản tối đa đến 50 triệu đồng đối với các cá nhân, hộ sản xuất nông, lâm, ngư, diêm nghiệp; đến 200 triệu đồng đối với các hộ kinh doanh, sản xuất ngành nghề hoặc làm dịch vụ nông nghiệp làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp, nông thôn; đến 500 triệu đối với đối tượng là là các hợp tác xã, chủ trang trại; cho vay tín chấp trên cơ sở có đảm bảo của tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn theo quy định hiện hành.
Tuy nhiên, để được các tổ chức tín dụng xem xét cho vay không có bảo đảm bằng tài sản, hộ nông dân, các hợp tác xã cần có phương án sản xuất kinh doanh khả thi và có hiệu quả hoặc cho vay tín chấp trên cơ sở có bảo đảm của tổ chức chính trị - xã hội ở nông thôn theo quy định hiện hành. Để tạo điều kiện cho hộ nông dân các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn vay theo quy định tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP, Ngân hàng Nhà nước đang và sẽ khuyến khích các tổ chức tín dụng tiếp tục mở rộng mạng lưới giao dịch tại các khu vực nông nghiệp, nông thôn.
Trường hợp hộ nông dân, các hợp tác xã đủ điều kiện vay vốn theo Nghị định 41/2010/NĐ-CP và Thông tư 14/2010/TT-NHNN nhưng không được các tổ chức tín dụng xem xét cho vay thì đề nghị Đại biểu Quốc hội và cử tri phản ánh cụ thể về đường dây nóng của Ngân hàng Nhà nước để được xem xét, xử lý.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Kim Bé. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.
1 Đến nay, đã có 05 tổ chức tín dụng có dư nợ cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn bình quân từ 40% đến dưới 70% tổng dư nợ và được Ngân hàng Nhà nước áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND bằng 1/5 tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường, góp phần làm tăng nguồn vốn cho nông nghiệp và nông thôn.
2 Tăng khoảng 30% so với năm 2010, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng dư nợ cho vay chung của nền kinh tế (tăng 14,47%).