Năm 2004 đã khép lại với nhiều biến cố. Lạm phát tưởng như ngủ yên sau nhiều năm bất thần quay trở lại. Đôla Mỹ rơi tự do bất chấp 5 lần tăng lãi suất. Và vàng dường như đang trên con đường tìm lại vị thế tiền tệ nguyên thủy của mình.
Lạm phát gia tăng
Lạm phát đã trở thành chủ đề được bàn luận sôi nổi nhất trong năm 2004 không chỉ bởi sự gia tăng đột biến của chỉ số giá tiêu dùng (CPI) mà còn bởi những diễn biến tưởng như trái với quy luật lâu nay của nó. Ai có thể ngờ rằng CPI của năm 2004 bỗng vọt lên tới 9,5% khi mà chỉ 4 năm trước lần đầu tiên trong lịch sử nó đã đứng ở con số âm (-0,6%) và chỉ cách đây 1 năm CPI còn ở mức lý tưởng (3,0%). Ai có thể ngờ rằng diễn biến tưởng như đã thành quy luật xảy ra liên tiếp trong 4 năm (2000-2003): CPI giảm trong những tháng đầu năm, tăng trong những tháng cuối năm ...nay lại biến động theo chiều ngược lại.
Hầu hết các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính sách đều thống nhất rằng những “cú sốc bên cung” mới chính là căn nguyên dẫn đến sự gia tăng đột biến CPI. Giá gạo tăng do hạn hán, giá thực phẩm tăng do cúm gà, giá dầu, sắt thép, dược phẩm... tăng do giá thế giới tăng và giới đầu cơ trong nước thao túng là những bằng chứng rõ ràng. CPI tăng chủ yếu do những nguyên nhân khách quan nhưng cũng không thể loại trừ những yếu tố chủ quan. Đó là liệu pháp “kích cầu” của Chính phủ được thực hiện từ mấy năm trước đã đạt tới “độ trễ” của nó. Đó là chính sách tiền tệ “nới lỏng một cách thận trọng” nhằm tạo đà cho tăng trưởng kinh tế có thể ít nhiều phải trả giá.
Tuy nhiên nếu dẫn ra luận điểm nổi tiếng một thời của Milton Friedman (Nobel kinh tế - Mỹ) rằng “lạm phát luôn luôn và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ” để “đổ lỗi” hoàn toàn cho chính sách tiền tệ thì lại là một nhận định thiếu cơ sở. Hơn 30 năm trước, Friedman đưa ra luận điểm này trên cơ sở những bằng chứng thực nghiệm cho thấy bất cứ quốc gia nào có tỷ lệ lạm phát cao thì ở đó cũng đồng thời diễn ra quá trình cung tiền với tốc độ tăng trưởng rất cao. Điểm đáng lưu ý trong luận điểm của Friedman là nó được xét trong một khoảng thời gian dài (nhiều năm) với tỷ lệ lạm phát hàng tháng cao (hơn 1%). Chính vì vậy, các nhà kinh tế cảnh báo: Chớ vội khẳng định đang xảy ra tình trạng lạm phát cao chỉ qua những biến động giá cả nhất thời được nêu trong bản tin tối trên đài. Và cũng không nên quên luận điểm của Friedman ám chỉ cho cả một quá trình tăng giá kéo dài cho nên nó không tính đến những “cú sốc” nhất thời từ phía “cung” cũng như từ phía “cầu”.
Một câu hỏi được đặt ra: Lạm phát rõ ràng không có lợi nhưng tại sao Chính phủ của nhiều quốc gia lại để cho lạm phát xảy ra? Câu trả lời đơn giản là: Bởi vì Chính phủ của bất cứ quốc gia nào cũng theo đuổi mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và tạo nhiều việc làm. Để đạt được mục tiêu đó họ phải khuyến khích đầu tư, tăng bội chi ngân sách hay nới lỏng chính sách tiền tệ... Và trong một số trường hợp do quá “mải mê” theo đuổi “mục tiêu lớn” mà họ “sao nhãng” nguy cơ lạm phát đang ngày một lớn dần. Chính vì vậy, cũng không có gì phải ngạc nhiên khi trong một cuộc toạ đàm về tình hình lạm phát ở Việt Nam vào tháng 9 năm ngoái, bà Susan Adam-Giám đốc Văn phòng Quỹ tiền tệ quốc tế ở Việt Nam bình luận rằng: “Để đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, có thể phải chấp nhận lạm phát gia tăng trong ngắn hạn”.
Tất nhiên, không thể để xảy ra tình trạng lạm phát kéo dài nhưng chống lạm phát thế nào thì lại là một vấn đề lớn. Các Chính phủ “sợ” lạm phát không chỉ bởi những hậu quả hiển nhiên của nó mà còn ở cái giá phải trả để “kéo” lạm phát xuống: đình đốn sản xuất, thất nghiệp gia tăng... Theo quan điểm của Friedman, người ta có thể chống lạm phát hiệu quả chỉ bằng một cách đơn giản là thắt chặt chính sách tiền tệ, giảm mạnh cung ứng tiền. Tuy nhiên, những biện pháp ấy trong nhiều trường hợp lại thực sự là những “liều thuốc đắng” bởi nó khiến cho lãi suất gia tăng nhanh chóng mà hậu quả là nhiều doanh nghiệp nhỏ bị phá sản. Lấy ví dụ ở Anh: Năm ngoái, số hộ kinh doanh nhỏ tuyên bố phá sản tăng 4 lần sau khi Ngân hàng Trung ương nước này tăng lãi suất 5 lần. ở Trung Quốc, để hạ nhiệt nền kinh tế tăng trưởng “quá nóng” và chống lạm phát, Chính phủ nước này tập trung chủ yếu vào các biện pháp định hướng đầu tư như: hạn chế ngân hàng đổ vốn vào khu vực bất động sản, sản xuất thép, xi măng... Mãi đến cuối năm 2004, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc mới sử dụng đến “con bài lãi suất” tuy nhiên mức độ tăng lãi suất chỉ là 0,27% (từ 5,31%/năm lên 5,58%/năm). Đối phó với lạm phát bao giờ cũng là bài toán khó khăn bởi nó phải giải quyết được cùng một lúc 2 mục tiêu mang tính đánh đổi là lạm phát và tăng trưởng kinh tế.
Ở Việt Nam, trước tình hình CPI tăng đột biến trong những tháng đầu năm 2004, Chính phủ đã đưa ra nhiều biện pháp khống chế lạm phát mà chủ yếu là nhằm hạn chế tác động của “cú sốc từ phía cung” như: giảm mạnh thuế nhập khẩu xăng dầu và sắt thép; kiểm soát chặt giá cả các mặt hàng thiết yếu; chống đầu cơ, hạn chế độc quyền; giảm chi hành chính từ nguồn ngân sách, phục hồi đàn gia cầm... Bên cạnh đó, mặc dù cho rằng không thể dùng chính sách tiền tệ để đối phó với dịch cúm gà cũng như làm giảm giá xăng dầu, sắt thép thế giới, từ tháng 8/2004, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng tăng dự trữ bắt buộc nhằm góp phần kiềm chế lạm phát. Kể từ tháng 7/2003, CPI bắt đầu giảm mạnh so với đầu năm và xu hướng này ngày càng trở nên rõ nét hơn vào những tháng cuối năm. Lạm phát đã được khống chế trong khi lãi suất thị trường chỉ bị đẩy lên một cách không đáng kể. GDP tiếp tục tăng trưởng với tốc độ cao hơn năm 2003, đầu tư và tiêu dùng tiếp tục tăng trưởng mạnh. Và chính những thành công trong ổn định kinh tế vĩ mô và cải thiện môi trường đầu tư là nguyên nhân chủ yếu khiến cho lượng vốn ODA mà các nhà tài trợ dành cho Việt Nam trong năm 2005 lên tới mức cao kỷ lục (3,4 tỷ USD). Bài toán lạm phát đã tìm ra lời giải, có thể chưa phải là tối ưu nhưng chắc chắn là lời giải đúng.
Đôla Mỹ rơi tự do
2004 cũng là năm chứng kiến đồng tiền của nước Mỹ, cường quốc kinh tế mạnh nhất thế giới với GDP lên tới trên 10.000 tỷ USD, rớt giá một cách thảm hại bất chấp Cục Dự trữ Liên bang Mỹ 5 lần tăng lãi suất. Chỉ trong vòng hơn 1 năm, USD đã mất giá hơn 30% so với euro mà đỉnh điểm là vào đầu tháng 12 năm ngoái khi 1 euro đổi được tới 1,34 USD. Trong lịch sử, chưa bao giờ đồng USD lại “yếu” so với euro như vậy. Khi mới ra đời (năm 1999), 1 euro được định giá bằng 1 USD. Thậm chí, vào thời điểm tháng 10/2000, 1 euro chỉ đổi được 0,83 USD. Nếu như ở Việt Nam, VND mất giá so với USD vài phần trăm một năm có thể đã khiến cho các nhà hoạch định chính sách lo ngại thì việc USD mất giá hàng chục phần trăm so với euro lại là một hành động có chủ đích của Chính phủ Mỹ. Diễn biến này tưởng như trái quy luật trong bối cảnh nền kinh tế khổng lồ nhất thế giới tăng trưởng với tốc độ khá cao trong điều kiện lạm phát tương đối thấp nhưng lại phản ánh đằng sau nó một chính sách mà nước Mỹ đang theo đuổi. Đó là việc duy trì một đồng đôla yếu nhằm giải quyết những vấn đề nan giải của nền kinh tế Mỹ là bội chi ngân sách (trên 400 tỷ USD) và thâm hụt cán cân vãng lai lên tới mức kỷ lục (gần 600 tỷ USD).
Sự mất giá mạnh của USD đã khiến cho những nước có kim ngạch xuất khẩu lớn vào thị trường Mỹ lo ngại. Tuy nhiên, những tác động này đến xuất khẩu hàng Việt Nam vào Mỹ là không đáng kể bởi trong năm 2004 VND chỉ mất giá khoảng 1,0% so với USD. Trung Quốc cũng sẽ không gặp khó khăn lớn về xuất khẩu bởi đồng tiền nước này được neo chặt vào USD từ nhiều năm nay. Có thể khẳng định rằng việc duy trì tỷ giá VND/USD trong năm vừa qua một cách ổn định đã mang lại một “thành công kép”. Đó là vừa duy trì được khả năng cạnh tranh của hàng xuất khẩu Việt Nam , vừa góp phần kiềm chế lạm phát.
... Và sự trỗi dậy của vàng
Vàng, thứ kim loại được dùng làm tiền tệ gần như trong suốt lịch sử nhân loại dường như đã tìm lại được “vương miện” của mình khi đầu tháng 12 năm ngoái giá vàng thế giới đã leo lên trên 450USD/ounce, một mức giá cao kỷ lục trong vòng 16 năm trở lại đây. Trong năm 2004 giá vàng tăng gần 10%, còn so với hơn 3 năm trước, giá vàng tăng tới trên 70%. Diễn biến này tưởng như trái quy luật bởi từ năm 1971, sau khi Hiệp ước Breton Wood sụp đổ, vị thế tiền tệ của vàng đã bị suy yếu đáng kể khi nó không còn được gắn chặt với giá trị của USD. Và trên thực tế vàng không thể tiếp tục mang sứ mệnh là phương tiện thanh toán trong một thế giới hiện đại với tràn ngập máy vi tính và mạng internet. Nhưng vàng dường như đang trên con đường tìm lại vị thế tiền tệ nguyên thủy của mình trong một thế giới đầy bất ổn. Sự trỗi dậy của vàng như để đáp lại “lời miệt thị” của nhà kinh tế vĩ đại nhất thế kỷ 20 John Maynard Keynes khi ông từng xếp vàng vào loại “di sản của thời kỳ man rợ-barbarous relic”.
Ở Việt Nam , nếu như những năm trước giá USD và giá vàng còn gắn chặt với nhau như hình với bóng thì nay chúng lại vận động theo những “nẻo” khác. Nếu như tỷ giá là “con đẻ” của hàng loạt những nhân tố kinh tế vĩ mô (lãi suất, lạm phát, xuất nhập khẩu, vốn đầu tư nước ngoài...) trong mối tương tác phức tạp thì sự biến động của giá vàng ở Việt Nam chỉ đơn thuần là hệ quả trực tiếp của sự biến động giá vàng thế giới. Giá vàng trong nước luôn theo sát giá vàng thế giới trong xu thế kim loại này đang dần được coi là một thứ “hàng tiêu dùng cao cấp”, đồng thời với việc “mở rộng cửa” cho phép các doanh nghiệp được nhập khẩu vàng. Có thời điểm giá vàng trong nước lên tới trên 870.000 đồng/chỉ nhưng người dân đã bớt quan tâm hơn. Họ không còn nườm nượp đi mua hoặc bán vàng mỗi khi có biến động về giá bởi họ biết rằng giá vàng được quyết định ở London, HongKong, New York... chứ không phải ở mấy hiệu vàng trong nước.
Có thể nói, năm 2004 đã chứng kiến nhiều diễn biến tưởng như đã trở thành quy luật bị phá vỡ. Tuy nhiên, nếu nhìn vào “độ mở” của nền kinh tế Việt Nam được “đo” bằng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu/GDP (gấp khoảng 1,4 lần) thì thấy đó là những “bất ngờ” có thể lý giải được. Hội nhập mang đến nhiều cơ hội mới nhưng cũng có “giá” của nó. Sự bình tĩnh, thận trọng, sáng suốt của các nhà hoạch định chính sách trong năm qua đã góp phần quan trọng giúp cho “cỗ máy kinh tế Việt Nam ” tiếp tục tăng tốc trong thế cân bằng động.
Tuấn Anh