Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang khẩn trương soạn thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 101 trong năm 2015 (hiện đang xin ý kiến), theo đó bổ sung các quy định về các phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam.
Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đang khẩn trương soạn thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 101 trong năm 2015 (hiện đang xin ý kiến), theo đó bổ sung các quy định về các phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam.
1. Tiền ảo và các hệ lụy:
Chỉ sau 8 tháng xuất hiện, tốc độ phát triển số lượng thành viên tham gia đầu tư vào Onecoin tại VN tăng rất mạnh. Số lượng NĐT tham gia vào hệ thống “đào” Onecoin ngày càng tăng cao khi những NĐT tham gia trước “tự nguyện” trở thành người làm công cho tập đoàn để hưởng mức hoa hồng theo hình tháp đa cấp
Đây là hoạt động có dấu hiệu lừa đảo, phạm pháp, không được pháp luật công nhận và đầy rủi ro. Theo Vụ Thanh toán – NHNN, các loại “tiền ảo” kỹ thuật số như Bitcoin, Onecoin hay Gemcoin đã và đang được tạo ra không được Chính phủ cũng như NHTW các nước khác trên thế giới thừa nhận là tiền tệ hợp pháp (legal tender hay fiat money). Chính vì vậy, đầu tư kinh doanh “tiền ảo” sẽ gây ra những rủi ro và tổn thất mà nhà đầu tư sẽ hoàn toàn phải gánh chịu.
Thứ nhất, các đồng “tiền ảo” được lưu giữ dưới dạng kỹ thuật số nên nguy cơ bị tội phạm mạng tấn công, đánh cắp, thay đổi dữ liệu hoặc bị ngừng giao dịch là rất lớn. Điển hình như trường hợp của đồng Bitcoin, năm 2014 sàn giao dịch Bitcoin Mt.Gox tại Nhật bị đánh sập, 850.000 đồng Bitcoin tương đương 400 triệu USD của nhà đầu tư đã bị mất sạch hoàn toàn.
Thứ hai, cách thức kinh doanh “tiền ảo” về bản chất giống kinh doanh đa cấp theo mô hình kim tự tháp, lợi nhuận có được từ đầu tư các đồng “tiền ảo” này (nếu có) có thể chỉ là lấy của người đầu tư sau trả cho người đầu tư trước. Chính vì vậy, những nhà đầu tư đến sau sẽ là người gánh chịu rủi ro lớn.
Ngoài ra, khi ngày càng nhiều nhà đầu tư tham gia vào hệ thống kinh doanh này sẽ tiềm ẩn nguy cơ bong bóng giá của “tiền ảo”, khi bong bóng vỡ sẽ gây thiệt hại cho người đầu tư do tính thanh khoản của các đồng “tiền ảo” này rất kém vì không dễ dàng đổi các đồng “tiền ảo” này thành tiền pháp định.
Thứ ba, các đồng “tiền ảo” không bị chi phối và kiểm soát bởi cơ quan quản lý nhà nước nào trên thế giới, do đó, người sở hữu “tiền ảo” sẽ chịu toàn bộ rủi ro vì không có cơ chế pháp lý để bảo vệ quyền lợi khi xảy ra tranh chấp.
Thứ tư, các giao dịch bằng “tiền ảo” có tính ẩn danh cao nên “tiền ảo” có thể trở thành công cụ cho tội phạm như: rửa tiền, buôn bán ma túy, trốn thuế, giao dịch, thanh toán tài sản phi pháp.
2. Tiền ảo không được nhà nước bảo hộ:
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đã có thông báo không chấp nhận các loại “tiền ảo” là phương tiện thanh toán hợp pháp và đưa ra các cảnh báo rủi ro cho người sử dụng như: Thái Lan, Nga, Pháp, Trung Quốc, Malaysia, Indonesia, Nauy...
Ngày 27/2/2014, Ngân hàng Nhà nước đã có thông cáo báo chí về đồng “tiền ảo” tại Việt Nam, nêu rõ: “Theo các quy định của pháp luật hiện hành về tiền tệ và ngân hàng, Bitcoin (và các loại “tiền ảo” tương tự khác) không phải là tiền tệ và không phải là phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Do đó, sử dụng Bitcoin và các loại “tiền ảo làm phương tiện thanh toán không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các tổ chức tín dụng không được phép sử dụng Bitcoin và các loại “tiền ảo” như một loại tiền tệ hoặc phương tiện thanh toán khi cung ứng dịch vụ cho khách hàng.
Sở hữu, mua bán, sử dụng các loại “tiền ảo” như là một loại tài sản tiềm ẩn rất nhiều rủi ro cho người dân và không được pháp luật bảo vệ. Do đó, NHNN khuyến cáo các tổ chức, cá nhân không đầu tư, nắm giữ, thực hiện các giao dịch liên quan đến Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác”.
Về khuôn khổ pháp lý, Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010 (Luật số 46/2010/ QH12 ngày 16/6/2010), Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt (Nghị định 101) và các văn bản khác liên quan đến lĩnh vực thanh toán chưa có quy định về “tiền ảo”.
Nghị định sửa đổi, bổ sung Nghị định 101 bổ sung các quy định về các phương tiện thanh toán hợp pháp tại Việt Nam. Cụ thể, Khoản 1, Điều 1, Dự thảo bổ sung quy định: “6. Phương tiện thanh toán không dùng tiền mặt sử dụng trong giao dịch thanh toán (sau đây gọi là phương tiện thanh toán), bao gồm: séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, ví điện tử và các phương tiện thanh toán khác được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận sử dụng trong giao dịch thanh toán”. Tại nội dung quy định về Cung ứng phương tiện thanh toán (Điều 14a, Dự thảo) cũng nêu rõ: “2. Việc phát hành, cung ứng và sử dụng các phương tiện thanh toán không thuộc quy định tại Khoản 1, Điều 1 Nghị định này không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ”.
(Cnth theo Tạp chí thnh)