Trước hết, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội Trần Anh Tuấn, Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh đối với hoạt động ngân hàng.
Về ý kiến chất vấn của Đại biểu nêu tại Phiên chất vấn và trả lời chất vấn của Đại biểu Quốc hội vào sáng ngày 17/11/2017 liên quan đến các giải pháp để tăng khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời như sau:
Trong những năm qua và nhất là từ khi thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa IX về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân, kinh tế tư nhân đã không ngừng phát triển, đóng góp ngày càng lớn hơn vào sự nghiệp đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 13/6/2017 của Hội nghị Ban chấp hành TW Đảng lần thứ 5 khóa XII xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng để phát triển kinh tế và tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân.
Thực hiện chủ trương của Đảng và chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước đã và đang thực hiện nhiều giải pháp nhằm khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận nguồn vốn tín dụng hợp lý, qua đó góp phần phát triển nhanh, bền vững, cụ thể như:
- Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện cho khu vực kinh tế tư nhân được vay vốn và tiếp cận các nguồn vốn phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh, như các thành phần kinh tế khác.
- Chủ động, linh hoạt sử dụng và điều hành các công cụ chính sách tiền tệ (thông qua công cụ nghiệp vụ thị trường mở, tái cấp vốn) tạo điều kiện cho các TCTD đảm bảo cân đối vốn và kịp thời hỗ trợ vốn phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, người dân, trong đó có doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất, kinh doanh cá thể.
- Điều hành chính sách lãi suất theo hướng giảm dần phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, thị trường tiền tệ ngoại hối để hỗ trợ cho khách hàng vay vốn, trong đó có doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất, kinh doanh cá thể; đồng thời chỉ đạo các TCTD chủ động các biện pháp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động để có cơ sở giảm lãi suất cho vay.
- Chỉ đạo các TCTD triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp, người dân tiếp cận nguồn vốn ngân hàng, như:
(i) Ưu tiên tập trung vốn hỗ trợ cho vay đối với các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên, trong đó có khu vực kinh tế tư nhân;
(ii) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, xem xét miễn giảm lãi vốn vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay; đổi mới quy trình cho vay vốn theo hướng giảm bớt phiền hà cho khách hàng;
(iii)Xây dựng quy trình thu thập, khai thác thông tin về đánh giá tín nhiệm, hoạt động của khách hàng để nâng cao hiệu quả thẩm định và đánh giá mức độ tín nhiệm của khách hàng vay, qua đó tăng cường khả năng cho vay không có bảo đảm bằng tài sản;
(iv) Đẩy mạnh triển khai một số chương trình tín dụng đặc thù, như cho vay hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp, cho vay phục vụ phát triển thủy sản, hỗ trợ khai thác hải sản xa bờ, cho vay ngành công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển...; cho vay nông nghiệp nông thôn theo Nghị định 55/2015/NĐ-CP của Chính phủ đối với cá nhân, hộ gia đình, chủ trang trại không có tài sản bảo đảm từ 50 triệu đến tối đa 3 tỷ đồng phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh, quy định hình thức cho vay lưu vụ để tăng khả năng tiếp cận vốn phát triển nông nghiệp;
(v) Tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương nhằm tháo gỡ các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng.
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, cung ứng và hỗ trợ vốn tích cực cho khu vực kinh tế tư nhân để phát triển lành mạnh, hiệu quả, bền vững và trở thành một động lực quan trọng góp phần phát triển kinh tế. Tỷ trọng dư nợ tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân liên tục tăng qua các năm và chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng dư nợ tỷ lệ dư nợ tín dụng toàn hệ thống (Năm 2012 là 76,11%, năm 2013 là 77,62%, năm 2014 là 77,72%, năm 2015 là 78,4%, năm 2016 là 81,11% và ước đến tháng 9/2017 là 84,42%)1.
Trên thực tế, các doanh nghiệp, hộ kinh doanh có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất, kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng với lãi suất hợp lý. Tuy nhiên, một số doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn ngân hàng chủ yếu là do năng lực tài chính yếu kém, không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh; nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý...
Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục rà soát cơ chế, thủ tục cho vay để xem xét chỉnh sửa hoặc bổ sung chính sách tín dụng đối với các lĩnh vực đặc thù cho phù hợp với tình hình mới; tăng cường đối thoại, tổ chức các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp tại các địa phương nhằm nắm bắt và kịp thời xử lý các khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận vay vốn ngân hàng; chỉ đạo các TCTD nâng cao khả năng đánh giá, thẩm định phương án vay vốn của các khách hàng đảm bảo hiệu quả vốn vay, an toàn hệ thống ngân hàng,…Tuy nhiên, bên cạnh các giải pháp của ngành Ngân hàng, bản thân doanh nghiệp cần cơ cấu lại hoạt động, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin để các TCTD yên tâm cấp tín dụng. Đồng thời, cần có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ, ngành, địa phương trong việc thực hiện các giải pháp hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân phát triển theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, như đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, đơn giản hóa, rút ngắn thời gian xử lý các thủ tục hành chính, giải quyết tranh chấp, tố tụng, xét xử, thi hành án…
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Trần Anh Tuấn. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu đối với hoạt động ngân hàng.
1 Dư nợ tín dụng của khu vực kinh tế tư nhân bao gồm dư nợ tín dụng của hộ sản xuất, kinh doanh cá thể; doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh.