a). Tên Đề tài: Tác động của quản trị tri thức đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại Việt Nam - Mã số: ĐTNH.002/18
b). Tổ chức chủ trì: Học viện Ngân hàng
c). Chủ nhiệm và người tham gia chính:
- Chủ nhiệm: PGS.TS. Đỗ Thị Kim Hảo, Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng.
- Thư ký: ThS. Phạm Đức Anh
- Các thành viên tham gia: TS. Trần Mạnh Hà; TS. Nguyễn Thị Việt Hà; ThS. Nguyễn Thị Thu Trang; TS. Nguyễn Xuân Quang; ThS. Trần Thị Bảo Quế; TS. Chu Khánh Lân; ThS. Trương Hoàng Diệp Hương.
d). Mục tiêu của nhiệm vụ: Nghiên cứu nhằm đề xuất giải pháp, kiến nghị nâng cao hiệu quả quản trị tri thức tại các NHTM Việt Nam.
đ) Thời gian bắt đầu và thời gian kết thúc:
- Thời gian bắt đầu: Tháng 10/2018.
- Thời gian kết thúc: Tháng 02/2020
e) Kinh phí thực hiện: 250 triệu đồng.
g) Kết quả thực hiện:
Nhằm mục tiêu giới thiệu khung lý thuyết, kiểm nghiệm tác động của quản trị tri thức đối với hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tri thức tại các NHTM Việt Nam, đề tài ĐTNH.002/18 đã triển khai các nội dung nghiên cứu cụ thể như sau:
Chương 1 giới thiệu khái quát đề tài nghiên cứu căn cứ trên một số nội dung trọng tâm gồm: tính cấp thiết của đề tài, tổng quan tài liệu, mục tiêu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và kết cấu nội dung. Xuất phát từ thực tiễn nhận thức và triển khai hoạt động quản trị tri thức nhằm thúc đẩy hiệu quả hoạt động tại các NHTM còn hạn chế, cộng với sự thiếu vắng các nghiên cứu có tính toàn diện bàn về vấn đề này tại Việt Nam, việc triển khai đề tài nghiên cứu là hết sức cấp thiết. Quá trình lược khảo công trình có liên quan chỉ ra rằng đề tài này là hoàn toàn mới, có tính khả thi và không trùng lắp với nghiên cứu trước đó. Đề tài được thực hiện nhằm kiểm nghiệm tác động của quản trị tri thức đối với hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tri thức tại các NHTM. Mô hình nghiên cứu (với 8 giả thuyết) được đề xuất trên cơ sở tổng kết lý thuyết và các nghiên cứu trước đây. Để kiểm định các giả thuyết đặt ra, đề tài sử dụng mô hình phân tích cấu trúc tuyến tính SEM - PLS.
Chương 2 đã hệ thống khá toàn diện cơ sở lý luận và nghiên cứu thực nghiệm về tác động của quản trị tri thức tới hiệu quả hoạt động của các NHTM. Nội dung của chương đã chỉ rõ những cách tiếp cận khác nhau về khái niệm, các đặc trưng và nội dung của hoạt động quản trị tri thức. Quá trình triển khai hoạt động quản trị tri thức cần phải trải qua một quy trình gồm 5 bước chính như sau: sáng tạo tri thức, chia sẻ tri thức, tích luỹ tri tức, lưu trữ tri thức và ứng dụng tri thức. Việc hệ thống các công trình nghiên cứu trước đây chỉ ra rằng việc triển khai tốt công tác quản trị tri thức sẽ giúp tổ chức và ngân hàng cải thiện hiệu quả hoạt động, hạn chế "chảy máu chất xám", thúc đẩy năng suất lao động và từ đó kiến tạo lợi thế trong cạnh tranh. Cũng trong Chương 2, các tác nhân điển hình ảnh hưởng tới công tác quản trị tri thức cũng đã được nhận diện, đồng thời mối quan hệ giữa hoạt động quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động của ngân hàng cũng đã được tổng hợp và phân tích toàn diện nhằm lấy đó làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu trong các chương sau.
Chương 3 đề tài trình bày chi tiết về quy trình nghiên cứu và mô hình thực nghiệm nhằm giải quyết các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra. Trên cơ sở tổng kết lý thuyết và tham khảo nghiên cứu trước đây, mô hình kiểm nghiệm quan hệ giữa quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam được đề xuất dựa trên 8 giả thuyết, trong đó: (1) Gắn với mục tiêu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả quản trị tri thức, đề tài kiểm định vai trò của 4 tác nhân chính gồm: văn hóa tri thức, hạ tầng công nghệ, cấu trúc tổ chức và năng lực lãnh đạo; (2) Gắn với mục tiêu đánh giá mối quan hệ giữa hoạt động quản trị tri thức và hiệu quả hoạt động của NHTM, đề tài xem xét 4 khía cạnh hiệu quả hoạt động chính: hiệu quả về quy trình, hiệu quả về nhân sự, hiệu quả về thị trường và hiệu quả kinh doanh; (3) Hoạt động quản trị tri thức được mô hình hóa dựa trên 5 nội dung trong quy trình triển khai, cụ thể là: sáng tạo tri thức, chia sẻ tri thức, tích lũy tri thức, lưu trữ tri thức và ứng dụng tri thức.
Việc phát triển bảng hỏi và xác định thang đo cho các biến nghiên cứu được tham khảo từ các nghiên cứu có liên quan trước đây kết hợp tham vấn ý kiến của chuyên gia đầu ngành. Quá trình điều tra khảo sát được thực hiện đối với cán bộ quản lý cấp cao, cấp trung và nhân viên của NHTM hoạt động trên địa bàn Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Cuối cùng, để kiểm định toàn diện mô hình nghiên cứu, chúng tôi vận dụng các tiêu chuẩn đánh giá độ tin cậy của thang đo phổ biến và mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) dựa trên thuật toán "bình phương nhỏ nhất từng phần" (PLS).
Chương 4 đề tài trình bày chi tiết các kết quả nghiên cứu chính thu được từ quá trình thực nghiệm SEM-PLS đối với 8 giả thuyết trong mô hình nghiên cứu trên 369 phản hồi thu được. Trước hết, kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố văn hóa tri thức, hạ tầng công nghệ, năng lực lãnh đạo và cấu trúc tổ chức đều có tác động đáng kể và tích cực đến hoạt động quản trị tri thức tại NHTM. Trong bốn yếu tố trên, văn hóa tri thức trong tổ chức được xem là có tác động mạnh mẽ và tích cực nhất, tiếp đó là cấu trúc tổ chức, năng lực lãnh đạo và nền tảng công nghệ. Thứ hai, việc thực hiện tốt công tác quản trị tri thức trong ngân hàng giúp cải thiện đáng kể hoạt động kinh doanh, trong đó yếu tố được cải thiện nhất là quy trình làm việc, tiếp đến là năng lực làm việc của nhân viên, hiệu quả về thị trường và hiệu quả tài chính.
Căn cứ vào phân tích, đánh giá ở các chương trước về vai trò, vị trí và mức độ ảnh hưởng của quản trị tri thức đối với hiệu quả hoạt động của NHTM, Chương 5 đề tài đã đưa ra một số khuyến nghị đối với các NHTM về các chính sách, cách thức mà NHTM có thể cân nhắc nhằm tăng cường hoạt động quản trị tri thức của mình. Các khuyến nghị này có thể chưa hoàn toàn đầy đủ vì thực tiễn vốn đa dạng, nhưng đã bao hàm hầu hết các khía cạnh liên quan tới quản trị tri thức mà một NHTM cần quan tâm và cân nhắc liên quan tới việc phát triển văn hóa, nâng cao vai trò của ban lãnh đạo ngân hàng, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, tăng cường ứng dụng công nghệ và xây dựng các chính sách quản trị tri thức cụ thể. Các khuyến nghị hướng tới số đông các NHTM và được chắt lọc từ chính các phân tích và thực tiễn triển khai ở một số NHTM điển hình. Do đó, nếu một NHTM soi vào các khuyến nghị này thì có thể thấy có việc mình đã thực hiện, có việc mình chưa thực hiện hoặc thực hiện chưa tốt. Điều quan trọng là cái nhìn tổng thể về một chiến lược nhất quán nhằm tăng cường quản trị tri thức trong ngân hàng. Nhóm nghiên cứu mong muốn rằng, ban lãnh đạo của các NHTM có thể căn cứ vào các khuyến nghị này để rà soát lại các chính sách, văn hóa, cơ cấu tổ chức, hạ tầng công nghệ của mình nhằm hoàn thiện chúng hơn nữa, từ đó nâng cao khả năng quản trị tri thức của mình. Khi đó, hệ thống NHTM của Việt Nam sẽ thực sự phát triển trên nền tảng tri thức cao, góp phần vào sự phát triển chung của toàn nền kinh tế theo định hướng nền kinh tế tri thức.
Đề tài được Hội đồng tư vấn đánh giá nghiệm thu kết quả thực hiện xếp loại Giỏi./.