74 năm qua kể từ ngày thành lập, cùng với những bước thăng trầm của lịch sử dân tộc, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã khẳng định vai trò là trụ cột vững chắc của nền kinh tế. Trong từng giai đoạn, ngành Ngân hàng luôn chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ, bảo vệ đồng tiền quốc gia, góp phần kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng bền vững; luôn sáng tạo, tiên phong trong chuyển đổi số, hiện đại hóa hệ thống thanh toán, mở rộng tiếp cận tài chính, góp phần nâng cao đời sống người dân và hỗ trợ doanh nghiệp vững bước trong quá trình hội nhập. Phóng viên đã có cuộc trò chuyện với Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đào Minh Tú để cùng nhìn lại những dấu ấn nổi bật của ngành Ngân hàng trong quá khứ, hiện tại và tầm nhìn chiến lược đến năm 2045.
Nhân dịp kỷ niệm 80 năm ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2/9/1945-2/9/2025) và 74 năm ngày thành lập Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, xin đồng chí chia sẻ góc nhìn về những đóng góp của Ngân hàng Nhà nước về điều hành chính sách tiền tệ trong sự nghiệp phát triển của đất nước suốt gần 8 thập kỷ qua?
Phó Thống đốc Thường trực Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Đào Minh Tú
Cùng với quá trình đổi mới, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển đất nước, hoạt động của ngành Ngân hàng đã có những đổi mới sâu sắc, nhất là trong lĩnh vực hoạch định, thực thi chính sách tiền tệ. Ngân hàng Nhà nước đã từng bước hoàn thiện, đổi mới các công cụ chính sách tiền tệ, ngày càng tiến gần tới các nghiệp vụ ngân hàng trung ương hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế và xu thế phát triển của nền kinh tế đất nước.
Bên cạnh đó, với một nền kinh tế đang phát triển, trong đó hệ thống ngân hàng là kênh cung ứng vốn chủ yếu cho nền kinh tế, chính sách tiền tệ đã phát huy vai trò là một trong những chính sách vĩ mô quan trọng của Chính phủ trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, hướng tới phát triển kinh tế nhanh và bền vững. Và xuyên suốt chặng đường lịch sử trên, Ngân hàng Nhà nước luôn kiên định, nhất quán mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, coi đây là mục tiêu ưu tiên hàng đầu trong quá trình điều hành chính sách tiền tệ. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát là tiền đề để phát triển kinh tế đất nước, củng cố nền tảng vững chắc, duy trì niềm tin của nhà đầu tư, cộng đồng doanh nghiệp, người dân đối với môi trường kinh doanh, qua đó giúp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, huy động và phân bổ tối ưu các nguồn lực.
Điều hành chính sách tiền tệ đã góp phần đạt được các kết quả nổi bật trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội đất nước như: Kiểm soát thành công lạm phát phù hợp với mục tiêu Quốc hội, Chính phủ đặt ra và neo giữ kỳ vọng lạm phát ổn định, trong 10 năm qua và trong thời gian trước đó nữa, lạm phát đã đạt được mục tiêu dưới 4,5%, đây là một trong những mục tiêu chính trị lớn nhất, quan trọng nhất, là nền tảng cơ bản tạo sự ổn định của nền kinh tế, tạo sự ổn định giá trị đồng tiền, tạo niềm tin trong nền kinh tế, nhà đầu tư trong ngoài nước.
Đồng thời, đảm bảo thanh khoản hệ thống TCTD, hỗ trợ cung ứng vốn đầy đủ, kịp thời nhu cầu sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ quá trình phát triển kinh tế xã hội; Thị trường tiền tệ hoạt động ổn định, mặt bằng lãi suất cho vay có xu hướng giảm để hỗ trợ cho doanh nghiệp, người vay vốn và hỗ trợ trực tiếp cho tăng trưởng kinh tế. Tỷ giá cơ bản ổn định, thị trường ngoại tệ thông suốt, các nhu cầu ngoại tệ hợp pháp được đáp ứng đầy đủ. Trong bối cảnh rủi ro toàn cầu tăng lên và nhiều quốc gia trên thế giới liên tiếp bị hạ bậc xếp hạng do ảnh hưởng tiêu cực của dịch bệnh Covid-19, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đều nâng hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam do nền tảng vĩ mô ổn định, tiềm năng tăng trưởng khả quan.
Trong giai đoạn đất nước còn chia cắt và chiến tranh kéo dài, Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện nhiệm vụ chính trị và tài chính như thế nào để góp phần vào thắng lợi chung của dân tộc, thưa Phó Thống đốc?
Nhìn lại cuộc kháng chiến vỹ đại, trường kỳ của dân tộc Việt Nam, sau Hiệp định Giơ-ne-vơ (20/7/1954), 2 miền Nam - Bắc tạm thời bị chia cắt. Miền Bắc bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam bước vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân.
Trong giai đoạn này, Ngân hàng Nhà nước đã đảm nhận một sứ mệnh vô cùng đặc biệt: trở thành huyết mạch tài chính của cách mạng, đáp ứng nhu cầu kiến thiết nước nhà ở Miền Bắc cũng như chi viện cho chiến trường Miền Nam phục vụ cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng dân tộc, đó là cung ứng nguồn lực tài chính quan trọng.
Ở miền Bắc - hậu phương lớn của cả nước, hệ thống ngân hàng đã phát huy tối đa vai trò là công cụ đắc lực của Đảng và Nhà nước trong quản lý, điều tiết tiền tệ và tín dụng quốc gia, góp phần quan trọng vào việc ổn định kinh tế, phát triển sản xuất và từng bước xây dựng nền tảng ngân hàng tiếp cận theo định hướng của chủ nghĩa xã hội. Giai đoạn này, hoạt động ngân hàng đã tập trung vào huy động vốn, tín dụng, tiền mặt tạo thanh khoản và điều kiện cho sản xuất lương thực, thực phẩm… tạo hậu phương vững chắc cho miền Nam, đảm bảo cuộc sống ổn định cho bà con nhân dân miền Bắc.
Thông qua việc ban hành và triển khai đồng bộ các chính sách tài chính - tín dụng phù hợp với điều kiện chiến tranh, ngành Ngân hàng đã chủ động huy động mọi nguồn lực trong dân, trong hợp tác xã và các thành phần kinh tế quốc doanh, tập thể. Các dòng vốn tín dụng ngân hàng đã huy động tích cực với sự nhiệt tình và trách nhiệm của mỗi tổ chức, mỗi người dân, đưa đến đúng nơi cần thiết, từ đồng ruộng, nông trường, hợp tác xã, nhà máy cơ khí, xí nghiệp sản xuất đến các công trình trọng điểm của thời kỳ công nghiệp hóa bước đầu. Các hoạt động tín dụng đầu tư sản xuất, tín dụng khuyến nông, tín dụng tiết kiệm… đã góp phần hình thành nên một nền kinh tế tự lực, tự cường, từng bước thoát ly cơ chế bao cấp thủ công, hướng tới nền tài chính - ngân hàng xã hội chủ nghĩa. Đây là giai đoạn hết sức quan trọng, tiền đề cho những sự phát triển tiếp theo của ngành Ngân hàng.
Ở miền Nam, nơi tuyến lửa, những chiến sĩ thầm lặng của ngành Ngân hàng trên mặt trận tài chính - tiền tệ đã vượt qua bom đạn, đóng góp công sức, hy sinh rất lớn, viết nên một con đường huyền thoại. Đó là con đường chuyển tiền bí mật chi viện nguồn lực tài chính cho chiến trường miền Nam từ năm 1959 đến ngày giải phóng năm 1975.
Nhìn lại, có thể khẳng định rằng, Ngân hàng Nhà nước đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị - tài chính - tiền tệ trong giai đoạn đặc biệt của đất nước. Không chỉ bảo đảm tài chính cho kháng chiến, ngành Ngân hàng còn góp phần tạo dựng nền móng độc lập về tiền tệ, chủ quyền về kinh tế - tài chính, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối, thống nhất đồng tiền, thống nhất lòng dân.
Trong tầm nhìn đến năm 2045 - khi đất nước kỷ niệm 100 năm độc lập - đất nước ta bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc, Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu chiến lược như thế nào?
Hướng tới tầm nhìn đến năm 2045 - dấu mốc trọng đại kỷ niệm 100 năm độc lập của dân tộc, Ngân hàng Nhà nước xác định mục tiêu chiến lược là tiếp tục kiên định bám sát sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo và trách nhiệm cao, phối hợp chặt chẽ với các bộ, ngành và địa phương để thực hiện tốt nhất các mục tiêu phát triển chung của đất nước. Trên tinh thần đó, Ngân hàng Nhà nước đề ra một số mục tiêu, định hướng chính cho ngành Ngân hàng, nhằm hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia giàu mạnh, thịnh vượng, có thu nhập cao vào năm 2045.
Một là, đổi mới hoàn thiện, thể chế, chính sách thể chế pháp lý hoạt động của ngành Ngân hàng.
Hai là, tiếp tục theo dõi, dự báo sát tình hình kinh tế trong nước và quốc tế để tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ các quyết sách phù hợp và điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khoá và các chính sách kinh tế vĩ mô khác nhằm kiểm soát lạm phát, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế đạt mục tiêu 2 con số trong nhiệm kỳ tiếp theo.
Ba là, điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, lạm phát và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế nhằm góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Bốn là, tiếp tục đầu tư nâng cấp, phát triển hạ tầng công nghệ thông tin, hạ tầng thanh toán hiện đại. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, đảm bảo an ninh, an toàn và bảo mật hoạt động thanh toán, ngân hàng, thoả mãn yêu cầu ngày càng cao của doanh nghiệp, người dân và nền kinh tế.
Xin cảm ơn Phó Thống đốc!
Nhóm PV