Khi bạn cần tiền mặt, bạn tìm đến một chiếc máy ATM (automated teller machine), đút thẻ vào nơi đọc thẻ, trả lời các câu hỏi hiện ra trên màn hình, và trong vòng một phút bạn trở ra mang theo tiền và một tờ hóa đơn. Hiện nay, những cái máy như vậy có thể được tìm thấy ở các trung tâm thương mại, siêu thị lớn và các điểm đông người qua lại. Nhưng đã bao giờ bạn băn khoăn về qui trình khiến bạn có thể rút tiền ở bất kỳ máy ATM nào trong hàng trăm, hàng ngàn máy ATM. Xin giới thiệu về quy trình khiến khách hàng có thể tiếp cận được tiền của mình tại các máy ATM.
1. Máy ATM hoạt động như thế nào?
Máy ATM đơn giản là một trạm thu nhận dữ liệu với hai thiết bị đầu vào và bốn thiết bị đầu ra. Giống như bất kỳ trạm thu nhận dữ liệu nào khác, máy ATM phải kết nối với một máy chủ (bộ xử lý chủ) và chuyển thông tin qua máy chủ này. Máy chủ này tương tự như một thiết bị cung cấp dịch vụ mạng (Internet Service Provider - ISP) ở chỗ nó là cổng vào mà qua đó tất cả các mạng lưới ATM khác nhau trở nên có thể sử dụng được đối với chủ thẻ (người muốn rút tiền).
Hầu hết các máy chủ đều có thể kết nối được với các máy ATM thuê đường dây hoặc các máy ATM quay số. Các máy thuê đường dây nối trực tiếp với máy chủ qua một đường dây điện thoại riêng gồm 4 dây, điểm nối điểm. Các máy ATM quay số nối với máy chủ qua một đường dây điện thoại thường sử dụng một modem và một số điện thoại miễn phí, hoặc thông qua một ISP sử dụng số điện thoại địa phương qua một modem.
Máy ATM thuê đường dây riêng thích hợp đối với các điểm giao dịch số lượng lớn vì khả năng giao dịch nhanh và máy ATM quay số thích hợp với các điểm bán lẻ nơi mà chi phí là một yếu tố quan trọng hơn là tốc độ giao dịch. Chi phí ban đầu cho một máy quay số chỉ chưa bằng một nửa chi phí ban đầu cho một máy thuê đường dây. Các chi phí hoạt động hàng tháng của một máy quay số chỉ là một phần nhỏ so với chi phí hoạt động của một máy thuê đường dây.
Máy chủ có thể do một ngân hàng hoặc một tổ chức tài chính sở hữu, hoặc có thể do một nhà cung cấp dịch vụ độc lập sở hữu. Máy chủ do ngân hàng sở hữu thường chỉ phục vụ các máy ATM của ngân hàng, trong khi đó máy chủ độc lập phục vụ cho của những đơn vị chấp nhận thẻ.
2. Cấu tạo của máy ATM:
Máy ATM có hai thiết bị đầu vào:
Bộ phận đọc thẻ: Bộ phận này nắm bắt thông tin về tài khoản được lưu giữ trên dải băng từ ở mặt sau của thẻ ATM, thẻ nợ hoặc thẻ tín dụng. Máy chủ sử dụng thông tin này truyền gửi giao dịch cho ngân hàng của chủ thẻ.
- Bàn phím: Bàn phím khiến chủ thẻ có thể cho ngân hàng biết loại giao dịch nào được yêu cầu (rút tiền, vấn tin số dư...) và với số lượng bao nhiêu. Về phía mình, ngân hàng yêu cầu số PIN (mã số riêng) của chủ thẻ để kiểm tra. Luật Liên bang Hoa Kỳ quy định rằng nhóm số PIN được gửi cho máy chủ dưới dạng mật mã.
Máy ATM có bốn thiết bị đầu ra:
- Speaker: Speaker đưa ra cho chủ thẻ thông tin phản hồi bằng giọng nói khi phím được bấm.
- Màn hình hiển thị: Màn hình hiển thị đưa ra lời nhắc cho chủ thẻ theo từng bước của quá trình giao dịch. Các máy ATM thuê đường dây thường sử dụng màn hình đen trắng hoặc màn hình màu chân không. Máy ATM quay số thường sử dụng màn hình đen trắng hoặc màn hình màu tinh thể lỏng.
- In hóa đơn: Bộ phận in hóa đơn cung cấp cho chủ thẻ hóa đơn in trên giấy của giao dịch.
- Bộ phận trả tiền: Phần quan trọng nhất của một máy ATM là cơ chế trả tiền và cơ chế an toàn. Toàn bộ phần đáy của hầu hết các máy ATM nhỏ là một két sắt để đựng tiền.
Cơ chế trả tiền có một mắt điện tử để đếm mỗi tờ giấy bạc khi nó ra khỏi máy trả tiền. Tổng số tờ giấy bạc và tất cả các thông tin liên quan đến một giao dịch cụ thể được ghi vào một cuốn sổ. Cuốn sổ thông tin này được in ra định kỳ và bản in trên giấy được người chủ sở hữu máy ATM lưu giữ trong vòng hai năm. Bất cứ khi nào một chủ thẻ có tranh chấp về một giao dịch, anh ta có thể yêu cầu bản in chỉ ra giao dịch, và sau đó tiếp xúc với bên sở hữu máy chủ. Nếu nơi nào không cung cấp bản in từ cuốn sổ, chủ thẻ cần phải thông báo cho ngân hàng hoặc định chế phát hành thẻ biết và điền vào một mẫu đơn và mẫu đơn này sẽ được fax cho bên sở hữu máy chủ. Trách nhiệm giải quyết tranh chấp thuộc về bên sở hữu máy chủ.
Bên cạnh mắt điện tử để đếm từng tờ giấy bạc, cơ chế trả tiền cũng có một bộ phận cảm biến để đánh giá độ dày của mỗi tờ tiền. Nếu hai tờ tiền bị kẹt với nhau, khi đó thay vì được trả ra cho chủ thẻ, tờ tiền này được chuyển vào một thùng loại bỏ ở trong máy. Máy cũng sẽ làm tương tự đối với các tờ tiền bị sờn, rách, bị gấp.
Số lượng tờ giấy bạc bị loại bỏ cũng được ghi lại, vì thế chủ sở hữu máy có thể biết được chất lượng của những tờ giấy bạc được xếp vào trong máy. Một tỷ lệ loại bỏ cao sẽ cho thấy các tờ tiền hoặc cơ chế trả tiền có vấn đề.
3. Thanh toán tiền:
Khi một chủ thẻ muốn thực hiện một giao dịch ATM, anh ta nhập vào những thông tin cần thiết thông qua bộ phận đọc thẻ và bàn phím. Máy ATM gửi thông tin này cho máy chủ, máy chủ sẽ truyền yêu cầu giao dịch đến ngân hàng hoặc định chế phát hành thẻ của chủ thẻ. Nếu chủ thẻ yêu cầu tiền mặt, máy chủ tạo ra một giao dịch chuyển tiền điện tử từ tài khoản séc của khách hàng sang tài khoản của bên sở hữu máy chủ. Khi tiền đã được chuyển đến tài khoản tại ngân hàng của bên sở hữu máy chủ, máy chủ gửi một mã số chấp thuận cho máy ATM ra lệnh cho máy trả tiền. Sau đó qua trung tâm thanh toán bù trừ, máy chủ thực hiện chuyển tiền của chủ thẻ sang tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ thông thường là vào ngày làm việc hôm sau. Bằng cách này, đơn vị chấp nhận thẻ được hoàn lại tất cả số tiền mà máy ATM đã trả.
4. Các giao dịch thanh toán bù trừ tự động (ACH)
“ACH” là từ viết tắt của giao dịch thanh toán bù trừ tự động. Đây là một thuật ngữ đặc thù của ngân hàng. Nó có nghĩa là một cá nhân hoặc một doanh nghiệp ủy quyền cho cá nhân hoặc doanh nghiệp khác rút tiền trên một tài khoản. Đối với các trung tâm sức khỏe và các doanh nghiệp, việc trả một khoản phí hội viên hàng tháng từ tài khoản hội viên qua ACH là một việc làm rất phổ biến, và nhiều doanh nghiệp nhỏ sử dụng ACH để cung ứng tiền điện tử cho thanh toán séc.
Như vậy, khi bạn yêu cầu tiền mặt, tiền sẽ được chuyển điện tử từ tài khoản của bạn sang tài khoản của người sở hữu máy chủ và sang tài khoản của đơn vị chấp nhận thẻ.
5. Vấn đề bảo mật máy ATM và những lời khuyên
Rất nhiều ngân hàng yêu cầu khách hàng chọn mã số riêng của mình (số PIN). Visa đưa ra một số lời khuyên đối với việc sử dụng số PIN như sau:
- Đừng viết ra số PIN của bạn. Nếu bạn phải viết ra số PIN, không nên cất nó ở trong ví.
- Tạo số PIN bằng một dãy chữ hoặc số mà bạn có thể dễ dàng nhớ, nhưng số PIN này không được liên quan đến bạn một cách quá dễ dàng.
- Tránh sử dụng ngày sinh, chữ đầu tiên của tên, số nhà hoặc số điện thoại.
Visa cũng khuyến cáo những điều cần lưu ý để sử dụng máy ATM an toàn:
- Cất thẻ ATM của bạn trong ví nơi mà thẻ sẽ không bị cào xước hoặc bị cong.
- Hãy lấy thẻ của bạn ra trước khi bạn đến gần máy ATM. Bạn dễ có khả năng bị tấn công hơn nếu bạn đang đứng trước máy ATM và lóng ngóng lục tìm thẻ trong ví.
- Đứng trực diện với bàn phím của máy ATM khi gõ mã số của bạn. Điều này hạn chế được việc có ai đó đang đứng đợi sử dụng máy ATM nhìn thấy những thông tin cá nhân của bạn.
- Sau khi kết thúc giao dich, hãy cầm theo hóa đơn, thẻ và tiền của bạn. Không nên đứng trước máy ATM để đếm tiền.
- Nếu bạn đang sử dụng một máy ATM dành cho người lái xe ô tô, hãy đưa xe ô tô của bạn vào càng gần máy ATM càng tốt để tránh việc có ai đó sẽ tiến đến gần cửa sổ xe của bạn. Cũng nên chắc chắn rằng các cửa xe đã được khóa trước khi bạn lái xe đến gần máy ATM.
- Không nên để xe ô tô của bạn nổ máy khi bạn đang sử dụng máy ATM dành cho người đi bộ. Hãy mang theo chìa và khóa cửa xe trước khi thực hiện giao dịch.
- Nếu có ai đó hoặc có điều gì khiến bạn thấy bất ổn, hãy hủy bỏ giao dịch và rời khỏi máy ngay. Hãy liên hệ với ngân hàng để chắc chắn rằng giao dịch đã được hủy bỏ và cảnh báo cho họ biết về bất kỳ kẻ tình nghi nào.
Vì lý do an toàn, người sử dụng máy ATM nên tìm đến máy ATM nằm ở nơi công cộng được thắp sáng. Luật Liên bang Hoa Kỳ quy định rằng chỉ có 4 con số cuối của số tài khoản khách hàng được in trên hóa đơn giao dịch để khi nếu hóa đơn bị bỏ lại ở địa điểm đặt máy, thì số tài khoản vẫn được bảo mật. Tuy nhiên, việc gõ vào 4 chữ số của số PIN vẫn nên được giấu đi để tránh sự quan sát, bằng cách đặt tay bạn và người bạn ở tư thế mà số PIN bạn gõ vào không bị Camêra ghi lại hoặc bị những nhân viên của cửa hàng nhìn thấy. Số PIN của chủ thẻ không được ghi lại ở sổ hóa đơn mà chỉ có số tài khoản được ghi lại mà thôi. Nếu bạn bảo mật được số PIN của mình thì tài khoản của bạn cũng được bảo đảm an toàn.
6. ATM cho người khiếm thị
Một vài công ty lớn trên thế giới đang quảng cáo loại máy ATM dành cho người khiếm thị. Những máy ATM này sẽ được đặt ở các ki-ốt chứ không phải ở các ngân hàng. Trong vài năm qua, bàn phím của máy ATM đã được trang bị thêm ký tự Braille dành cho người khiếm thị.
Sự cải tiến về mặt kỹ thuật này bao gồm cả việc máy sẽ nhắc khách hàng bằng giọng nói về thẻ, số PIN của họ và về loại giao dịch nào họ muốn thực hiện.
Theo Tạp chí THNH