TS. BẾ TRUNG ANH
Cuộc cách mạng CNTT (CNTT) - “làn sóng thứ ba” đang tràn tới, đã tác động tích cực đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế - xã hội, làm thay đổi cả lối sống, phong cách làm việc, tư duy của con người. CNTT không tự tạo ra sự thay đổi trong xã hội, nhưng chúng được coi là các phương tiện tạo thuận lợi cho việc hình thành tri thức trong các xã hội đổi mới, nó là phương tiện giải phóng các tiềm năng sáng tạo và tri thức tiềm ẩn trong mỗi con người.
Sự xuất hiện của CNTT và những trụ cột đặc trưng mới của nền kinh tế không đơn thuần chỉ là cuộc cách mạng về công nghệ, về máy móc, về kỹ thuật, về phần mềm hay tốc độ... mà trước hết đó phải là cuộc cách mạng về quan niệm, về đổi mới tư duy... Sử dụng những ứng dụng CNTT trong phát triển kinh tế - xã hội (KT - XH) đang là vấn đề thời sự. Ứng dụng CNTT để phát triển một cách nhanh chóng mọi năng lực, thay đổi cách quản lý, đổi mới nền sản xuất gần như là bắt buộc với những quốc gia không muốn bị tụt hậu. Cùng với các bước tiến như vũ bão của cuộc cách mạng CNTT một nền kinh tế mới ra đời - kinh tế số hoá hay kinh tế tri thức (Knowledge - Based Economic).
Mô hình ứng dụng CNTT trong hoạt động quản lý nhà nước.
CNTT là động lực thúc đẩy phát triển KT-XH: Công nghệ đã phát triển nhanh trong ba mươi năm qua. Có ba quy luật kết hợp lại, khiến cho sự gia tăng đó có tốc độ chóng mặt. Quy luật Gordon Moore (1991) cho rằng cùng với một số tiền thì cứ sau 18 tháng người ta có thể mua được một microchip có năng lực xử lý tối đa tăng gấp đôi so với trước đó. Nói cách khác, máy tính có tốc độ nhanh gấp đôi, nhưng giá cả giảm đi một nửa. Theo quy luật Gilder thì dải tần số tổng cộng của các hệ thống liên lạc sẽ tăng gấp 3 lần sau mỗi 12 tháng, miêu tả sự suy giảm tương tự về chi phí đơn vị của mạng. Quy luật Metcalfe cho rằng giá trị của một mạng tương ứng với bình phương số mối nối. Do vậy, khi một mạng mở rộng, giá trị của việc kết nối với mạng đó tăng theo cấp số mũ, trong khi chi phí của mỗi người sử dụng vẫn giữ nguyên hoặc thậm chí còn giảm xuống. Quy luật Metcalfe áp dụng cho Internet nhưng nó cũng đúng cho các hệ thống điện thoại.
Nền kinh tế lớn nhất thế giới là Mỹ có tốc độ tăng trưởng kinh tế là 4,1% năm 2000, thặng dư ngân sách năm 2000 là 211 tỷ USD. CNTT chỉ chiếm khoảng 8,3% GDP, nhưng đã đóng góp gần 1/3 sự tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ và 1/2 sự tăng năng suất của nước này từ 1995 đến 1999. Số người làm việc liên quan đến Internet tăng gấp đôi trong năm 1999 và thu nhập hàng năm của ngành này tăng 74%. Có thể khẳng định sự dẫn đầu trong CNTT đã tạo ra một cơ hội ngàn vàng cho các doanh nghiệp Mỹ chiến thắng trong các cuộc cạnh tranh. Các doanh nghiệp Mỹ trong quá trình xây dựng lại (restructuring) đã không chỉ thay đổi phương thức về chính sách quản lý làm việc mà còn ứng dụng một cách tối đa những thành tựu của khoa học thông tin. Năng suất lao động và chất lượng tăng trong khi chi phí giảm đã tạo ra một ưu thế cạnh tranh tuyệt đối cho các doanh nghiệp Mỹ. Các doanh nghiệp CNTT, mà phần lớn là của Mỹ, như Yahoo, Nescape, Dell, đã phát triển nhanh chóng, trở thành những công ty khổng lồ với tài sản hàng chục tỷ USD trong vòng chưa đầy một chục năm, vượt xa những công ty công nghiệp truyền thống. Một ví dụ điển hình khác là chuỗi siêu thị lớn nhất và thành công nhất nước Mỹ và thế giới là “WalMart” đã sử dụng hệ thống thông tin (HTTT) để quản lý và phân phối các mặt hàng với tổng chi phí lưu thông là 10% trong khi các đối thủ cạnh tranh khác phải chịu mức chi phí này là 25%. Điều này góp phần giải thích sự lớn mạnh của WalMart trong vòng gần 15 năm qua, vượt qua nhiều đối thủ lớn. Giá trị của WalMart đã đạt tới hơn 100 tỷ USD trong năm 2003. WalMart cũng đi đầu trong việc bán hàng thông qua Internet với việc xây dựng một siêu thị (Cyber Mall) trên mạng.
Để tránh tụt hậu với Mỹ, tất cả các nước phát triển cũng đang đầu tư rất mạnh vào CNTT và xây dựng nền kinh tế tri thức. Chính sự đầu tư này đã dẫn đến CNTT và thương mại điện tử (TMĐT) phát triển mạnh tới mức mà người ta khó có thể dự đoán trước. Nếu năm 1999 có 280 triệu người đã nối mạng Internet thì năm 2000 con số đó đã vượt ngoài dự kiến là 375 triệu. Thị trường điện thoại di động đang tăng trưởng với mức 45% năm. Đến năm 2000 đã có khoảng một tỷ người hay 1/6 dân số thế giới sử dụng điện thoại di động. Sự kết hợp giữa các công ty điện thoại di động và các công ty dịch vụ Internet đã tạo ra những dịch vụ mới thúc đẩy một cách mạnh mẽ các giao dịch thông qua mạng Internet. Một thống kê mới nhất tại Anh cho biết, trong vòng 10 năm qua, số lượng người tại đảo quốc này truy cập Internet tăng 4 lần, và trong 5 năm gần đây họ bán ra 15 triệu máy vi tính.
CNTT là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và kích thích năng lực đổi mới nền kinh tế toàn cầu nói chung, và nền kinh tế quốc dân của mỗi nước nói riêng. Với việc áp dụng TMĐT, các ngân hàng có nhiều thuận lợi trong việc cung cấp các dịch vụ và thực hiện các giao dịch liên ngân hàng trong lĩnh vực thanh toán, thương mại quốc tế, quản lý luồng tiền. Tổng giá trị giao dịch hàng ngày trên thế giới lên tới 3500 tỷ USD. TMĐT phát triển với một tốc độ ghê gớm từ tổng giá trị 17 tỷ USD năm 1997 lên đến 70 tỷ năm 1999 và đạt trên 1.000 tỷ vào năm 2002. Phần lớn các chuyên gia đều cho rằng Internet sẽ là con đường giao dịch kinh doanh chủ yếu trong tương lai. Tất cả các doanh nghiệp đều phải chấp nhận con đường này nếu họ không muốn đứng ngoài cuộc.
Bản thân ngành CNTT cũng đóng góp đáng kể vào tăng trưởng. Theo tính toán của IDC, doanh thu của thị trường sản phẩm và dịch vụ CNTT trên thế giới trong năm 2002 đạt khoảng 1000 tỷ USD, thì 3 năm sau - năm 2005 con số này đã là 1400 tỷ USD.
Trong bối cảnh tự do hoá thương mại và toàn cầu hoá, các tổ chức, doanh nghiệp tại các nước đang phát triển cũng có khả năng áp dụng những thành tựu mới nhất của khoa học công nghệ. Ngay tại khu vực Đông Nam Á, phát triển CNTT và thiết lập hệ thống thương mại điện tử “eASEAN” luôn là chủ đề được quan tâm trong những cuộc họp nhiều cấp, từ các Thủ tướng đến các Bộ trưởng kinh tế khối ASEAN. Hướng tới một không gian kinh tế - xã hội ASEAN điện tử. Ngay từ năm 2002, hiệp định khung eASEAN đã được ký kết. Hiện tại các quốc gia trong khu vực đang tăng nhanh đầu tư vào CNTT.
Mối quan hệ CNTT với kinh tế tri thức
Xã hội loài người đã và đang trải qua ba trình độ phát triển khác nhau của nền kinh tế. Trong đó, ra đời sớm nhất là nền kinh tế nông nghiệp với trình độ sản xuất thô sơ, năng suất lao động thấp; tiếp theo là nền kinh tế công nghiệp với trình độ sản xuất đã ở mức độ cao hơn, lực lượng sản xuất chủ yếu là máy móc; và đến đầu thập kỷ cuối cùng của thế kỷ XX đã ra đời và hình thành nền kinh tế tiên tiến, dựa chủ yếu vào tri thức và các thành tựu mới nhất của khoa học và công nghệ, nhằm nâng cao năng suất lao động, tạo nhiều của cải mới cho xã hội, được gọi là kinh tế tri thức (KTTT). Ngoài ra còn có các tên gọi khác: "kinh tế thông tin - information economy", "kinh tế mạng - network economy", "kinh tế số - digital economy" (nói lên vai trò quyết định của CNTT trong phát triển kinh tế).
Khi kinh tế (một quốc gia, một ngành) có trên 70% giá trị sản lượng được tạo ra do nguồn lực trí tuệ (tri thức, công nghệ cao) thì kinh tế đó được gọi là kinh tế tri thức. Như vậy, có thể nói kinh tế tri thức là một giai đoạn phát triển mới của các nền kinh tế với vai trò của sản xuất, phân phối và sử dụng kiến thức trong tăng trưởng kinh tế ngày càng trở nên quan trọng; đặc biệt tri thức đã trở thành nhân tố hàng đầu của sản xuất, vượt lên trên các nhân tố sản xuất cổ truyền vốn và lao động. Và điều đó ngầm nói rằng KTTT là tất yếu.
Một số đặc điểm cơ bản của KTTT và CNTT khiến cho chúng buộc phải trở thành cặp bài trùng. Và, không thể có KTTT mà không có CNTT với vai trò là động lực!
Cách mạng CNTT là nguyên nhân quan trọng hình thành nền KTTT. Việc ứng dụng CNTT hiện đại là yếu tố đưa những tri thức khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất. Con người có thể khám phá ra những lĩnh vực mới, sáng tạo tri thức mới, sản xuất ra của cải vật chất mới nhờ vào CNTT. Xác định được tầm quan trọng của CNTT mang đến, những năm 1990 trở lại đây, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều hoạch định chiến lược phát triển CNTT, xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin. Có thể thấy tốc độ tăng trưởng của ngành công nghệ mới mẻ này như sau: năm 1995, giá trị sản xuất công nghiệp CNTT chiếm 6% GDP của thế giới, đến nay đã trên 15%.
Đến lượt mình, CNTT sẽ chỉ có tác dụng đối với công nhân tri thức như một thứ model ăn chơi loè loẹt trang bị cho những “cậu ấm, cô chiêu” học làm sang trong thế giới thượng lưu, nếu những con người kiểu mới này không có đủ tri thức cần thiết (là công nhân của nền KTTT), để ứng dụng hợp lý và có hiệu quả CNTT cho mục đích cuối cùng. Điều đó cho phép suy diễn, nền KTTT cung cấp cho CNTT những công nhân tri thức để sử dụng CNTT có hiệu quả nhất.
Mặc dù vẫn chưa được xếp vào danh mục các quốc gia để đo lường KTTT, nhưng với quyết tâm “đi tắt đón đầu” Đảng và Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo cho việc chuẩn bị tiến vào nền kinh tế mới này một cách hối hả nhưng thận trọng, các Bộ, Ngành, các tỉnh thành đã bắt tay vào cuộc. Tháng 12/2003 Bộ Bưu chính viễn thông đã có bản kế hoạch tổng thể về phát triển và ứng dụng CNTT và viễn thông đến năm 2010 (ICT Plan 2010); Bộ Giáo dục & Đào tạo có kế hoạch đào tạo 20 ngàn chuyên viên phần mềm (đến 2010)…
Đặc biệt, định hướng cho ưu tiên phát triển và ứng dụng CNTT mà Chỉ thị 58 của Bộ chính trị đã đề ra, đang tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy nhanh việc triển khai ứng dụng và phát triển CNTT trong mọi lĩnh vực đời sống kinh tế, chính trị văn hoá. Những ảnh hưởng trực tiếp của Chỉ thị này khiến ngành công nghiệp CNTT có một bước tiến mới mang tính cách mạng. Và từ đây, những ảnh hưởng của nó đã lan toả rộng rãi trong các lĩnh vực, ngành nghề khác là không thể không thừa nhận. Có thể nói, CNTT đã tạo nên những thay đổi mang tính cách mạng trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế - chính trị và văn hoá - xã hội.
(Cnth theo thnh)