Với quyết tâm cao của ngành ngân hàng, lãi suất cho vay bình quân của hệ thống ngân hàng thương mại giảm nhanh từ 18,2% năm 2011, xuống dưới 9% năm 2014. Cùng với việc giảm lãi suất, chính phủ và NHNN có nhiều chính sách tích cực để thúc đẩy tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, do những bất ổn về kinh tế vĩ mô trong những năm gần đây, nên tăng trưởng dư nợ tín dụng ngành ngân hàng đạt ở mức khiêm tốn, phản ánh đúng thực trạng sức khỏe của nền kinh tế. Dư nợ tín dụng từ năm 2011 đến 2014 tăng lần lượt là 14,2%, 8,85%, 12,51% và 12%, thấp hơn so với những năm trước đó1.
Nguồn: NHNN
Kết thúc năm 2014, phần lớn các chỉ tiêu kinh tế - xã hội lớn đều đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch, trong đó tăng trưởng GDP đạt 5,98%, vượt chỉ tiêu kế hoạch do quốc hội đề ra. Kết quả tích cực của năm 2014 mở ra nhiều triển vọng tốt cho khơi tăng dư nợ tín dụng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong năm 2015- năm về đích của kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2011-2015. Tuy triển vọng của năm 2015 là khả quan, nhưng vẫn còn đó những gam màu tối, những điểm nghẽn trong hoạt động tín dụng, mà nó sẽ là rào cản cho cung ứng vốn tín dụng ngân hàng cho tăng trưởng kinh tế.
Những thách thức lớn cho tăng trưởng tín dụng ngân hàng năm 2015
1. Hàng hóa tồn kho cao, tiêu thụ chậm
Doanh nghiệp không thể tiếp tục đẩy mạnh sản xuất khi hàng sản xuất ra không bán được. Đây là điểm nghẽn lớn nhất khiến cho tăng trưởng kinh tế nói chung, tín dụng nói riêng không đạt kỳ vọng trong những năm qua. Điển hình cho hàng tồn kho cao là tồn đọng bất động sản. Lượng cung bất động sản vượt xa lượng cầu thực trong các năm, trong khi đây là loại hàng hóa có giá trị quá cao, gây ảnh hưởng trực tiếp cho nền kinh tế. Từ đầu năm 2014 đến nay, thị trường bất động sản tuy đã khởi sắc, tuy nhiên, tồn kho của ngành này còn là câu chuyện của nhiều năm tới. Theo báo cáo của Bộ Xây dựng, tồn đọng bất động sản hàng hóa cuối quí 3/2014 trên địa bàn thành phố Hà Nội khoản 85 ngàn tỷ đồng, con số thực có thể cao hơn nhiều. Trong khi đó, hàng hoạt dự án bất động sản khác tiếp tục chào hàng ra thị trường, đẩy hàng tồn đọng tăng cao. Bất động sản ở Thành phố Hồ Chí Minh và nhiều thành phố khác của cả nước cung trong hoàn cảnh tương tự. Tồn kho bất động sản kéo theo sự ế hàng của nhiều ngành có liên quan như xi măng, sắt thép, vật liệu, thiết bị điện, nội thất, nhân công xây dựng vv. Các mặt hàng nông sản thực phẩm như cao su, cà phê, mía đường, hạt điều, tôm, cá da trơn cũng đối diện với sự khó khăn về thị trường đầu ra và giá cá. Điểm sáng cho cho sản xuất và tiêu thụ trong những năm qua thuộc về ngành điện tử, công nghiệp ôtô, xe máy của khối nhà đầu tư nước ngoài.
2. Thiếu các dự án đầu tư có hiệu quả
Cái khó bó cái khôn, trong điều kiện hàng tồn kho cao, muốn có dự án đầu tư có hiệu quả, phải giải quyết đồng thời bài toán sản xuất và tiêu thụ. Về sản xuất, chúng ta đang gặp phải với năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thiếu khả năng canh tranh. Về tiêu thụ, sức mua trong nước thấp, chưa khai thác được thị trường xuất khẩu mới trong khi một số thị trường xuất khẩu truyền thống đang có vấn đề. Điểm lại các ngành kinh tế được xem là thế mạnh, đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế và có nhu cầu hấp thu lớn vốn tín dụng, thì phần lớn là đang gặp khó khăn. Đó là ngành xây dựng, vận tải, bất động sản, ngành cao su, cà phê, cây ăn trái, cá da trơn, tôm,vv… đang có mức giá thấp và gặp khó khăn thật sự về đầu ra. Chỉ riêng mặt hàng cao su, xuất khẩu 11 tháng đầu năm 2014 đạt 954 nghìn tấn với giá trị đạt 1,62 tỷ USD, tăng 0,5% về khối lượng nhưng lại giảm 27% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.
3. Các doanh nghiệp nợ nần dây dưa, nợ xấu ngân hàng vẫn đang ở mức cao
Hàng tồn kho cao không tiêu thụ được dẫn đến các doanh nghiệp nợ nần lẫn nhau không thể thanh toán, không thể trả nợ ngân hàng đúng hạn. Nếu như trước 2011, phần lớn các hợp đồng kinh tế giữa các doanh nghiệp đối tác của nhau đều khá dễ chịu về điều khoản thanh toán, thì từ đầu năm 2012 đến nay, chủ yếu là phải “tiền trao cháo múc”. Khi lòng tin lẫn nhau suy giảm, thì khả năng bán hàng lại càng trở khó khăn. Tương tự, nợ xấu cao, lòng tin lẫn nhau giữa ngân hàng và doanh nghiệp giảm thấp. Doanh nghiệp muốn vay vốn ngân hàng phải có tài sản thế chấp, trong khi tài sản của doanh nghiệp lại đang được bảo đảm cho những khoản nợ xấu chưa thể trả nợ cho ngân hàng. Nợ xấu và tăng trưởng tín dụng đang trong vòng luẩn quẩn chưa có lối ra sáng sủa.
Ba điểm nghẽn lớn về tăng trưởng tín dụng nêu trên, cũng chính là điểm nghẽn của nền kinh tế nước ta. Vì vậy, để tăng trưởng tín dụng, trước hết phải quyết các vấn đề của nền kinh tế. Nói cách khác là phải giải quyết các vấn đề của kinh tế vĩ mô cùng với các vấn đề cơ bản của tín dụng ngân hàng cho bài toán tăng trưởng tín dụng ngân hàng trong năm 2015 và những năm tới.
Giải pháp
Mục tiêu tăng trưởng dư nợ tín dụng của ngành ngân hàng năm 2015 là từ 13 đến 15%. Theo quan điểm của chúng tôi, nếu các điều kiện thuận lợi cho phép tăng trưởng GDP ở mức trên 6,5%, thì dư nợ tín dụng ngân hàng cần phải tăng trưởng cao hơn kế hoạch trên để hỗ trợ vốn cho nền kinh tế. Trong bối cảnh hiện nay, Chính phủ, NHNN và các Bộ, ngành có liên quan cần phải có các giải pháp đồng bộ cả về chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ, tín dụng ngân hàng
Chính sách hỗ trợ lãi suất vay tiêu dùng hay giảm thuế thu nhập cá nhân lúc này là không còn phù hợp. Vì hiện tại, mặt bằng lãi suất đã ở mức hợp lý và ngân sách nhà nước đang mất cân đối về nguồn thu. Để kích cầu tiêu dùng trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước và doanh nghiệp cần tập trung giải quyết tốt 3 vấn đề. Thứ nhất, tạo lập và cũng cố lòng tin của người lao động về sự ổn định của kinh tế vĩ mô và cải thiện khả năng tăng trưởng kinh tế; thứ hai, cam kết chắc chắn rằng việc làm và thu nhập của người lao động sẽ ổn định; thứ ba, giảm giá bán và đa dạng hóa các hình thức bán hàng. Hiện tại, một bộ phận lớn dân cư có tích lũy đáng kể, nhưng họ chưa mạnh dạn mua sắm, vì họ còn lo sợ về sự không ổn định về việc làm và thu nhập trong tương lai. Thứ tư, điều chỉnh chỉnh chính sách thuế theo hướng vừa kích cầu tiêu dùng, vừa phù hợp với xu hướng hội nhập và bảo đảm an toàn, an sinh xã hội. Thuế tiêu thu đặc biệt về ôtô, xe máy đang quá cao, vừa không kích thích được nhu cầu tiêu dùng chính đáng của người dân, gây thất thu cho ngân sách, vừa hạn chế quá trình thực hiện lộ trình giảm thuế đã cam kết với WTO. Ngược lại, cần phải tăng thuế đối với những mặt hàng gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân cũng như an toàn, an sinh xã hội như rượu, bia, thuốc lá.
Việc tăng lương cơ bản của người lao động kể từ năm 2015 sẽ tăng sức mua trong nước. Tuy nhiên, tăng lương cơ bản phải gắn liền với tăng năng suất lao động của xã hội. Nếu không, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam sẽ bị suy giảm. Giáo sư Kenichi Ohno của Viện nghiên cứu chính sách phát triển Quốc gia Nhật Bản cho rằng, việc tốc độ tăng năng suất lao động thấp hơn tốc độ tăng tiền lương danh nghĩa đang đánh mất đi lợi thế cạnh tranh của Việt Nam. Giai đoạn 2009-2012, năng suất lao động chung của toàn nền kinh tế Việt Nam tăng 3,2%/năm và 5,1%/năm cho khu vực sản xuất.Trong khi đó, tiền lương danh nghĩa tăng 25,9%/năm cho toàn bộ nền kinh tế và 23,4%/năm cho khu vực sản xuất.
Cùng với tăng niềm tin và sức mua của người tiêu dùng, cần làm tốt hơn nữa hoạt động truyền thông người Việt ưu tiên sử dụng hàng Việt. Sau sự cố giàn khoan 981 của Trung quốc hạ đặt trái phép trong vùng biển của Việt Nam hồi tháng 5/2014, phong trào này đã phát huy vai trò to lớn. Các con số thông kê về tỷ lệ hàng Việt tiêu thụ tại các siêu thị không ngừng tăng là những tín hiệu đáng mừng. Cần phải có chương trình quốc gia về vận động, tuyên truyền, giáo dục để thói quen người Việt dùng hàng Việt trở thành tập quán văn hóa của người Việt Nam. Nhiều quốc gia châu Á như Thái Lan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản rất thành công trong vấn đề này.
b) Tiết giảm chi phí sản xuất, tăng năng xuất lao động, chất lượng sản phẩm
Giá cả và chất lượng sản phẩm quyết định sự lựa cho của người tiêu dùng. Nếu hàng nội có giá cả cao và chất lượng sản phẩm quá kém so với hàng ngoại, thì mọi tuyên truyền về người Việt dùng hàng Việt cũng chỉ là khẩu hiệu. Bài toán cho giá cả và chất lượng sản phẩm luôn khó. Nhưng nó quyết định thành công của mọi doanh nghiệp sản xuất – kinh doanh cũng như của các quốc gia. Với nước ta, để tăng chất lượng sản phẩm, giảm giá bán, phải giải quyết tốt các vấn đề về công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực, tổ chức sản xuất và tiêu thụ. Đồng thời, điều quan trọng và cấp thiết nhất lúc này là khâu quản lý và chống tham nhũng. Chi phí bôi trơn và khả năng quản lý làm cho giá thành sản phẩm tăng cao, năng lực cạnh tranh suy giảm. Vấn đề là không phải ai cũng có thể tham nhũng và ai có thể chống được nó. Điều này phụ thuộc rất lớn vào quyết tâm và khả năng chống tham nhũng của bộ máy bảo vệ pháp luật của nhà nước. Bên cạnh đó, hệ thống truyền thông và sự hợp tác của người dân cũng đóng vai trò quan trọng cho việc giải quyết vấn nạn này.
Tích cực triển khai các chương trình xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư, tìm kiếm, mở rộng thị trường ra nước ngoài. Cục diện thế giới đã có sự biến đổi lớn trong những năm gần cả về kinh tế, chính trị và quân sự. Kéo theo nó là sự thay đổi khá rõ nét về trật tự kinh tế và thị trường. Từ diễn biến chính trường Ukraina, kéo theo các lệnh trừng phạt và trả đũa kinh tế lẫn nhau, các nước thuộc EU và Nga mới thấy được mức độ nghiêm trọng của việc lệ thuộc vào thị trường lớn. Sự cố Trung Quốc đặt giàn khoan 981 trái phép vào vùng biển Việt Nam hồi tháng 5/2014 cũng là bài học lớn cho Việt Nam về xuất khẩu chính ngạch và tiểu ngạch vào thị trường này. Hoạt động ngoại giao của lãnh đạo Đảng, Chính phủ thời gian gần đây đã mở ra nhiều cơ hội hợp tác, mở rộng thị trường của hàng Việt Nam. Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Hiệp hội các doanh nghiệp Việt Nam, các Bộ/ngành cần đẩy mạnh hơn nữa việc khai thác thị trường mới. Thị trường Nga, Châu Âu, Hoa kỳ, Châu Á được đánh giá đầy tiềm năng cho hàng Việt Nam, nhất là các mặt hàng nông sản thực phẩm, gia công, chế biến. Cùng với khai thác thị trường mới, việc xây dựng thương hiệu và uy tín của nhà sản xuất và bán hàng cũng cần phải được chú trọng đúng mức. Cần phải chú trọng công tác xây dựng kế hoạch, chiến lược phát triển các sản phẩm, ngành hàng cụ thể gắn kết với chiến lược phát triển thương hiệu quốc gia nhằm đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu có chiều sâu, hiệu quả và bền vững. Đồng thời, thực hiện tốt công tác cảnh báo sớm về các biện pháp phòng vệ thương mại để bảo vệ doanh nghiệp và sản phẩm của Việt Nam trong thương mại quốc tế.
Vốn ngân sách nhà nước được xem như là vốn mồi để định hướng phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia. Nhiệm vụ của vốn đầu tư công là tạo ra được sự lan tỏa trong nền kinh tế. Trong điều kiện ngân sách hạn hẹp, việc phân bổ và quản lý đầu tư công như thế nào để đạt hiệu quả cao đã được nhiều nhà khoa học đề xuất. Chỉ số ICOR của Việt Nam đang ở mức cao so với các nước Châu Á thờ kỳ công nghiệp hóa (xem bảng 1). Điều này cho thấy hiệu quả đầu tư thấp, trong đó, có sự kém hiệu quả của đầu tư công.
Bảng 1: Tỷ lệ vốn đầu tư/ GDP của một số nền kinh tế
Nước |
Giai đoạn |
Tăng trưởng GDP (%/năm) |
Tỷ lệ tổng đầu tư/GDP (%) |
ICOR |
Hàn Quốc |
1961 - 1980 |
7,9 |
23,3 |
3,0 |
Đài Loan |
1961 - 1980 |
9,7 |
26,2 |
2,7 |
Indonesia |
1981 - 1995 |
6,9 |
25,7 |
3,7 |
Malaysia |
1981 - 1995 |
7,2 |
32,9 |
4,6 |
Thái Lan |
1981 - 1995 |
8,1 |
33,3 |
4,1 |
Trung Quốc |
2001 -2006 |
9,7 |
38,8 |
4,0 |
Việt Nam |
1995 - 2000 |
7,4 |
32,8 |
4,7 |
2001 - 2005 |
7,3 |
37,96 |
5,2 |
|
2006 - 2010 |
7,0 |
39,3 |
6,3 |
|
2011 - 2013 |
5,5 |
31,4 |
5,5 |
Nguồn: WB, Tổng cục Thống kê
Vốn ngân sách cần tập trung cho phát triển cơ sở hạ tầng, kinh tế nông thôn theo hướng chuyên môn hóa có trọng tâm trong điểm, các khu công nghiệp,ngành công nghệ có gia trị gia tăng cao. Đồng thời, tăng cường chống tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công. Tỷ lệ vốn đầu tư/GDP của nước ta cao hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực thời kỳ công nghiệp hóa (bảng1) là một thành công lớn của nước ta. Tuy nhiên, tỷ lệ vốn đầu tư/GDP có xu hướng giảm nhanh từ 2011 đến nay. Trong bối cảnh đó, Chính phủ vẫn duy trì được tỷ lệ cao trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (xấp xỉ 40%) là một kết quả đáng khích lệ. Theo kế hoạch tài khóa năm 2014 ngân sách Nhà nước dành 163 ngàn tỷ đồng cho đầu tư phát triển, trong đó đầu tư cho nông nghiệp-nông thôn chiếm 41,7%.
a) Có chính sách đột phá về hoạt động cấp và xử lý tín dụng
Thứ nhất, có cơ chế chính sách cấp tín dụng mới đối với những khách hàng có nợ xấu, nhưng có có phương án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả.
Đối với những khoản cấp tín dụng mới này, cần có cơ chế phù hợp về điều kiện vay vốn. Trong đó, lưu ý về điều kiện về khả năng tài chính và điều kiện về tài sản bảo đảm tiền vay. Theo qui định hiện hành (Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của NHNN) về điều kiện cho vay, thì khách hàng phải có khả năng tài chính để trả nợ vay và phải có tài sản bảo đảm tiền vay. Rõ ràng, với khách hàng có nợ xấu thì tại thời điểm vay vốn khách hàng không có khả năng tài chính để trả nợ vay (nếu có khả năng, thì đã không bị nợ xấu). Khách hàng cũng không thể có tài sản bảo đảm tiền vay. Vì tài sản của doanh nghiệp lại đang được bảo đảm cho những khoản nợ xấu chưa thể trả nợ cho ngân hàng. Theo chúng tôi, về điều kiện bảo đảm khả năng tài chính, cần qui định theo hướng là khách hàng phải chứng minh được nguồn tiền có được để trả nợ khi đến hạn. Về tài sản bảo đảm tiền vay, cần hướng dẫn các TCTD áp dụng việc sử dụng tài sản hình thành từ vốn vay. Nếu giải quyết được 2 vấn đề cơ bản này, thì mới có thể thúc đẩy tăng trưởng tín dụng có kết quả. Tuy nhiên, với các tổ chức tín dụng cho vay, cần phải thẩm định và bảo đảm rằng dự án, phương án sản xuất - kinh doanh có hiệu quả; đồng thời, kiểm soát được dòng tiền của khách hàng vay để thu nợ. Nếu không, bẫy cấp tín dụng dưới chuẩn và bài toán xử lý nợ xấu lại lặp lại.
Thứ hai, có chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn mới phù hợp để khuyến khích phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng gia tăng chuỗi giá trị sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ nông sản, thực phẩm.
Chính phủ cần sớm ban hành Nghị định mới về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn thay thế cho Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010. Nghị định số 41/2010/NĐ-CP mà tiền thân của nó là Quyết định 67/1999/QĐ-TTg, Nghị định số 14/CP (1993) của Chính phủ, Chỉ thị 202/CT-HĐBT (1991) của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủ tướng CP), cùng với chính sách giao đất đến hộ sản suất (khoán 10) đã giúp nước ta từ một nước nhận viện trợ lương thực, thực phẩm, thành một trong những nước đứng đầu thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, hồ tiêu, điều, cao su, các da trơn vv...Tuy nhiên, trong bối cảnh mới, Nghị định này tỏ ra không còn phù hợp. Nghị định mới cần tăng mức cho vay không có bảo đảm bằng tài sản và khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư chế biến các mặt hàng có nguyên liệu đầu vào là các sản phẩm nông nghiệp để gia tăng chuỗi giá trị sản phẩm, hàng hóa có nguồn gốc từ nông sản, thực phẩm. Ngành cao su của nước ta đang đứng trước khó khăn chồng chất về thị trường là minh chứng rõ nhất cho việc chỉ sản xuất và sơ chế thô mủ cao su để tiêu thụ..
b) Xử lý nợ xấu quyết liệt, đồng bộ, đúng lộ trình
Một là, hoàn thành việc xây dựng phương án, mục tiêu, lộ trình và giải pháp xử lý nợ đối với từng khách hàng thuộc nhóm “khách hàng nhạy cảm”. Nhóm khách hàng nhạy cảm ở đây bao gồm khách hàng là sân sau của các ông chủ, lãnh đạo các TCTD, các chủ sở hữu chéo ngân hàng, các tập đoàn, tổng công ty. Với nhóm khách hàng này, nếu để ung nhọt nợ xấu phát tán, nguy cơ dẫn đến đỗ bể các NHTM chủ nợ là rất lớn. Vì thế, cần xây dựng các kịch bản xử lý nợ cho từng khách hàng riêng biệt. Đây là vấn đề hết sức lớn và phức tạp, phải đặc biệt lưu tâm lựa chọn phương án tôi ưu, không chủ quan nóng vội, nhưng phải cương quyết, đúng lộ trình.
Hai là, tiếp tục đẩy mạnh hoạt động mua, bán nợ xấu cho Công ty VAMC. Với những khách hàng có nợ xấu bán cho VAMC, cần tạo cơ chế thuận lợi để khách hàng được xem xét cấp tín dụng mới. Theo qui định tại Điều 19 Thông tư 19/2013/TT-NHNN thì khách hàng vay có khoản nợ xấu bán cho VAMC và có phương án sản xuất, kinh doanh, dự án đầu tư có hiệu quả được TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xem xét, cấp tín dụng theo thỏa thuận và quy định của pháp luật. Với qui định qui định này thì trong 5 điều kiện vay vốn qui định tại Quyết định 1627/2001/QĐ-NHNN của NHNN, khách hàng vay vốn sẽ không bảo đảm ít nhất 2 điều kiện. Đó là điều kiện về năng lực tài chính và bảo đảm tiền vay (như đã nêu ở kiến nghị cơ chế xử lý tín dụng nêu trên).
Ba là, tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức, cá nhân nước ngoài tham gia mua nợ xấu của các TCTD. Quyết định 59/2006/QĐ-NHNN là cơ sở pháp lý cho việc bán nợ các TCTD Việt Nam cho người nước ngoài. Nếu người nước ngoài tham gia mua bán nợ xấu, giá trị thực của các khoản nợ sẽ được đánh giá xác thực, tính minh bạch cao, điều cần thiết cho việc xác định chính xác mặt bằng giá nợ xấu của các TCTD. Nhưng quan trọng hơn, việc có được tiền từ nước ngoài để đẩy nhanh xử lý nợ xấu các TCTD Việt Nam, là giải pháp hữu hiệu lúc này.
Bốn là, khẩn trương đánh giá, nghiên cứu và kiến nghị việc kiện toàn hành lang pháp lý đủ thông thoáng cho quá trình xử lý nợ. Hiện tại, qui chế về mua bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đối với các khoản nợ bán cho VAMC đang từng được hoàn thiện, phù hợp với thực tiễn. Nhưng qui chế mua bán nợ giữa các TCTD, tổ chức với tổ chức và cá nhân khác, qui định của pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm tiền vay đang là điểm nghẽn trong hoạt động thu hồi nợ của TCTD. Thực tế xử lý nợ của các TCTD cho thấy rằng, trong trường hợp khách hàng không đồng thuận, một TCTD phải mất không dưới 2 năm để xử lý bảo đảm tiền vay là bất động sản để thu hồi nợ. Nếu tình trạng này không được cải thiện, thì việc đẩy nhanh thu hồi nợ là rất khó thực hiện.
c) Tiếp tục đẩy mạnh quá trình mua bán, sáp nhập (M&A) các TCTD. Ưu tiên bán, sáp nhập các TCTD yếu kém vào TCTD tốt để bảo đảm có đủ năng lực tài chính xử lý nợ xấu. Bởi, với những ngân hàng yếu kém, năng lực tài chính đã suy kiệt, thì càng để lâu, nợ xấu càng trầm trọng. Hơn nữa, với năng lực quản trị rủi ro của những TCTD yếu kém, nếu không được M&A vào TCTD tốt, thì có được trợ giúp xử lý nợ xấu, nguy cơ tái lập nợ xấu mới là hiện hữu. Mặt khác, thông quan M&A ngân hàng, những ung nhọt của nợ xấu, nợ nhóm khách hàng nhạy cảm, sở hữu chéo sẽ lộ diện, qua đó ngân hàng sau mua bán, sáp nhập sẽ có phương án xử lý tối ưu vớn sự trợ giúp của NHNN. Tăng trưởng tín dụng với chất lượng tốt chỉ có được khi nền kinh tế trở lại quỹ đạo tăng trưởng lành mạnh và thực hiện có hiệu quả quá trình tái cấu trúc hệ thống các TCTD.
Cuối cùng, duy trì lạm phát ổn định ở mức thấp để tiếp tục giảm mặt bằng lãi suất. Mặt bằng lãi xuất cho vay bình quân từ trên 20% năm, giảm nhanh xuống dưới 9% là thành quả tuyệt vời của ngành ngân hàng và sự hỗ trợ cao của Quốc hội, Chính phủ, Bộ tài chính trong việc chỉ đạo, phối hợp đồng bộ với các chính sách tài chính vĩ mô khác. Việc giảm sâu lãi suất vay vốn giúp doanh nghiệp tiết giảm chi phí, hạ giá thành sản xuất, tăng năng lực canh tranh. Tuy nhiên, mặt bằng lãi xuất cho vay của nước ta vẫn còn cao so với mặt bằng lãi xuất cho vay của các nước trong khu vực và trên thế giới. Theo hiệu ứng Fisher thì muốn giảm mặt bằng lãi suất chung của nền kinh tế xuống x%, thì phải tỷ lệ lạm phát phải giảm tương ứng. Tuy nhiên, muốn giảm thấp và duy trì ổn định lạm pháp, cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa. Mặt khác, trong điều kiện kinh tế mở của nước ta, lạm phát còn chịu ảnh hưởng bởi các vấn đề của kinh tế thế giới. Lưu ý, giá máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu của nước ta trong những năm qua giảm đáng kể, mà điển hình là giá dầu trong thời gian gần đây đóng vai trò tích cực trong việc giảm thấp chỉ số CPI của nước ta. Khi mà diễn biến giá các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu tăng, thì duy trì chỉ số CPI ở mức thấp của Việt Nam sẽ gặp khó khăn, kéo theo mặt bằng lãi suất tăng ./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TS. Nguyễn Mạnh Hùng
Viện Chiến lược Ngân hàng
1 Tăng trưởng dư nợ tsi dung bình quân giai đoạn 2001-2010 là 30,2%