Chương trình tín dụng khẩn cấp trị giá khoảng 1.000 tỉ euro do ECB thực hiện vào cuối năm 2011 và đầu năm 2012 của ECB đã giúp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng mới khi các ngân hàng chịu áp lực lớn nhất kể từ khi ngân hàng Lehman Brothers sụp đổ vào tháng 9/2008. Chương trình tín dụng này đã có tác động tích cực trong việc hỗ trợ các ngân hàng khu vực euro giảm áp lực về qui định tăng vốn và hạn chế rủi ro, đặc biệt là các ngân hàng Hy Lạp. Tuy nhiên, thị trường vẫn nghi ngờ biện pháp này không thể thúc đẩy được tăng trưởng kinh tế thông qua việc khuyến khích cho vay sản xuất và tiêu dùng trong khu vực tư nhân. Ngoài khu vực euro, ECB cũng hy vọng các ngân hàng châu Âu sẽ đẩy mạnh cho vay để phục hồi tăng trưởng kinh tế tại các nước Đông Âu, khu vực cũng bị suy thoái do những vấn đề liên quan đến các ngân hàng mẹ tại Tây Âu.
Nguyên nhân của tình trạng này được ông Stephen Cecchetti (Vụ trưởng Vụ kinh tế và chính sách thuộc BIS) giải thích trong báo cáo quí 1/2012 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS). Đó là, các ngân hàng châu Âu đã sử dụng hệ số đòn bẩy khá cao nên chưa dám đẩy mạnh cho vay chừng nào mức độ rủi ro chưa giảm, chi phí vay vốn ngắn hạn đã vượt ngưỡng lãi suất trong thời kỳ khủng hoảng ngân hàng năm 2008, nhiều ngân hàng không có khả năng tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu.
Khó khăn về thanh khoản tại các ngân hàng châu Âu cũng tăng lên khi các tổ chức tài chính nước ngoài rút vốn ồ ạt khỏi châu Âu, nhất là các ngân hàng Mỹ. Theo BIS, tất cả 10 quĩ thị trường tiền tệ tại Mỹ đã chấm dứt cho vay đối với các ngân hàng Italia, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Ireland từ cuối năm 2011 và hầu như rút khỏi cộng hòa Pháp.
Do thiếu vốn, các ngân hàng đã giảm mạnh cho vay. Trong sáu tháng cuối năm 2011, các ngân hàng yếu nhất châu Âu – bao gồm các ngân hàng Hy Lạp và một số ngân hàng khác đã giảm tín dụng tới 14,6%. Những ngân hàng còn lại cũng giảm cho vay tới 6%, mặc dù có tình hình tài chính lành mạnh hơn.
Theo kết quả điều tra nội bộ về tình hình kinh doanh tại khu vực euro sau chương trình tái cấp vốn lần đầu cho các ngân hàng thương mại vào tháng 12/2011, tín dụng ngân hàng chỉ tăng lên một cách khiêm tốn, kể cả cho vay liên ngân hàng. Đáng chú ý, các ngân hàng đã giảm mạnh hoạt động cho vay tại các nước Nam Âu. Trong thời gian từ tháng 7 đến tháng 9/2011, tín dụng dành cho các ngân hàng Italia và Tây Ban Nha lần lượt giảm 60 tỉ USD (9%) và 45 tỉ USD (7,5%); tín dụng cho các ngân hàng Bồ Đào Nha và Hy Lạp lần lượt giảm 13 tỉ USD (7,7%) và 6,5 tỉ USD (8,4%). Trái lại, dòng vốn tăng mạnh vào một số nước khác như vương quốc Anh, CHLB Đức, Thụy Sĩ, đây là những quốc gia được các nhà đầu tư nhận định là nơi ẩn náu an toàn nhất.
Ngoài việc hạn chế cho vay trong khu vực euro, các ngân hàng Tây Âu cũng tìm cách rút vốn khỏi chi nhánh tại nước ngoài, kể cả từ các nước Đông Âu. Theo dữ liệu của BIS, chỉ trong quí 3/2011, các ngân hàng Tây Âu đã rút 35 tỉ USD từ Đông Âu. Lo ngại về nguy cơ lan truyền những vấn đề về ngân hàng sang khu vực này tăng lên, do ngân hàng khu vực euro cung cấp tới 80% vốn vay nước ngoài tại các nước Đông Âu, nhất là Ba Lan, Hungari, Thổ Nhĩ Kỳ.
Trong khi đó, các ngân hàng Đông Âu cũng gặp khó khăn về thanh khoản do đã cho vay tràn lan trong thời kỳ thuận lợi và hiện nay đang gặp khó khăn về vốn do suy thoái kinh tế và khó thu hồi nợ vay, tỉ lệ nợ xấu khá cao. Cuối năm 2011, tỉ lệ nợ xấu tại Hungari và Rumani vào khoảng 14%. Điều này cho thấy, việc tái cấp vốn thông qua các ngân hàng khu vực euro chưa đủ để ngăn chặn rủi ro lây lan sang khu vực Đông Âu, và có lẽ ECB sẽ phải giót vốn một cách trực tiếp cho các ngân hàng Đông Âu. So với khu vực euro, tình hình kinh tế tại các nước Đông Âu nhìn chung là sáng sủa hơn.
Tóm lại, các khoản cho vay khẩn cấp từ ECB và các biện pháp mạnh của các nhà lãnh đạo EU chỉ góp phần cải thiện phần nào tình hình tài chính của các ngân hàng, nhưng cũng phơi bày những khó khăn mà hệ thống ngân hàng và các nước châu Âu tiếp tục phải đối mặt trong thời gian tới nhằm nhanh chóng phục hồi đà tăng trưởng kinh tế.
Quang Hải