Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Thanh tra kiểm soát

Tín dụng ngân hàng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng đồng bằng sông Cửu Long

03/05/2012 20:34:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

<html>\n <head>\n \n \n <body>\n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n \n

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là một khu vực kinh tế lớn của cả nước. Đây là khu vực có khả năng phát triển toàn diện về công nghiệp, nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp và dịch vụ. Với điều kiện tự nhiên, kinh tế và xã hội thuận lợi, nhiều tiềm năng phát triển, ĐBSCL luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng và Nhà nước thông qua các cơ chế chính sách thích hợp như Nghị quyết của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an ninh, quốc phòng vùng ĐBSCL thời kỳ 2001-2010, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL giai đoạn 2001-2005, trong đó nêu rõ định hướng chuyển dịch cơ cấu sản xuất và phát triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL là tăng tỷ trọng các ngành công nghiệp, xây dựng và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng nông, lâm, thủy sản trong cơ cấu GDP.

Bám sát chủ trương, định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, ĐBSCL đã xác định một số nội dung quan trọng của CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn là phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn; phát triển công nghiệp, dịch vụ các ngành nghề đa dạng chú trọng công nghiệp chế biến, cơ khí phục vụ nông nghiệp, các làng nghề; đổi mới cơ cấu cây trồng vật nuôi; giải quyết tốt vấn đề tiêu thụ, nông sản hàng hóa… Để thực hiện được những vấn đề quan trọng này, ngoài chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phải có cơ chế về huy động và sử dụng nguồn vốn đầu tư thích hợp, một trong những nguồn vốn đó là vốn tín dụng ngân hàng. Do đó, trong phạm vi bài viết nhóm nghiên cứu tập trung đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL, vai trò của tín dụng ngân hàng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại vùng, đồng thời, đề xuất các kiến nghị nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng thời gian tới một cách hiệu quả phù hợp với chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước.

Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng Đồng bằng sông Cửu Long:

Hiện nay, ngành kinh tế chính ở ĐBSCL là nông nghiệp, thủy sản và công nghiệp chế biến. Trong những năm qua, kinh tế ĐBSCL có những bước khởi sắc đáng kể, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực (giảm dần tỷ trọng Nông - Lâm - Ngư nghiệp, tăng dần tỷ trọng ở khu vực Công nghiệp - Xây dựng và khu vực Dịch vụ). ĐBSCL chuyển từ kinh tế thuần nông sang nền kinh tế đa dạng, nông nghiệp chất lượng cao và đang hướng tới nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ.

Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của cả vùng ĐBSCL giai đoạn 2006-2010 đạt 11,2%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của toàn vùng giai đoạn 2001-2005 (10,5%/năm). Nếu chia theo khu vực kinh tế thì khu vực công nghiệp, xây dựng có tốc độ tăng bình quân cao nhất trong cả 2 giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010 (tương ứng đạt 12%/năm và 10%/năm); tiếp theo là khu vực dịch vụ đạt 8,4%/năm và 8,9%/năm tương ứng ở 2 giai đoạn 2001-2005 và 2006-2010; cuối cùng là khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đạt 5%/năm và 4,5%/năm tương ứng với 2 giai đoạn.

Nông, lâm, ngư nghiệp phát triển toàn diện, từng bước hình thành vùng sản xuất tập trung, chuyên canh, phát huy lợi thế sản phẩm chủ lực của vùng (lúa gạo, thủy sản, trái cây), thể hiện vai trò trung tâm lớn về sản xuất lúa gạo, nuôi trồng, đánh bắt thủy sản của cả nước. Giá trị sản xuất toàn ngành tăng từ 56.292 tỷ đồng (năm 2001) lên 101.000 tỷ đồng (năm 2010), tăng trưởng bình quân giai đoạn 2001-2010 đạt 6,9%/năm; hiệu quả thu nhập trên mỗi ha đất sản xuất nông nghiệp trong vùng tăng từ 20,2 triệu đồng/ha (năm 2000) lên gần 38 triệu đồng/ha (năm 2010). Sản xuất lúa, trái cây, nuôi trồng thủy sản có nhiều tiến bộ rõ nét, phát huy thế mạnh, là ngành kinh tế mũi nhọn của vùng, đã hình thành một số mô hình tập trung chuyên canh lúa, cây ăn trái và thủy sản, áp dụng công nghệ cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, tăng lợi thế cạnh tranh trên thương trường.

Công nghiệp được chú trọng phát triển, đi dần vào khai thác các thế mạnh của vùng về công nghiệp chế biến nông sản, bước đầu tập trung đầu tư phát huy lợi thế về công nghiệp dầu khí, năng lượng, nhiệt điện và cơ khí. Giá trị sản xuất công nghiệp vùng ĐBSCL tăng liên tục trong các năm, đến năm 2010 đạt 156 nghìn tỷ đồng, tăng bình quân giai đoạn 2001-2010 là 18,8%/năm, làm thay đổi quy mô và chất lượng sản xuất. Thương mại, dịch vụ, du lịch, thông tin và truyền thông có bước phát triển, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu thụ và đời sống nhân dân.

Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng có nhiều cải thiện, hạ tầng giao thông có nhiều chuyển biến, gắn kết với thủy lợi; toàn vùng cơ bản hoàn thành mục tiêu xây dựng cụm, tuyến dân cư và nhà ở vùng ngập lũ, các đô thị được đầu tư, nâng cấp. Hạ tầng giao thông, thủy lợi có bước phát triển, gắn kết giao thông liên vùng, góp phần làm thay đổi nhanh diện mạo đô thị, nông thôn và vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bước đầu đáp ứng nhu cầu đầu tư, phát triển và đảm bảo an sinh xã hội.

Tuy nhiên, đến nay chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL còn chậm, tỷ trọng nông nghiệp vẫn khá cao trong cơ cấu ngành. Phát triển kinh tế chủ yếu theo chiều rộng, nhất là trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Việc liên kết “bốn nhà” cũng như liên kết vùng chưa thật sự gắn kết để cùng nhau phát triển. Chuyển dịch cơ cấu lao động chưa theo kịp tốc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung. Việc đào tạo, phân phối sử dụng lao động trong các khu vực còn mất cân đối. Nguồn lao động có kỹ thuật đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững còn thiếu. Kết cấu hạ tầng giao thông trong khu vực chưa được kết nối hoàn chỉnh làm tăng chi phí vận tải, làm mất ưu thế cạnh tranh hàng hóa, ảnh hưởng không nhỏ đến việc thu hút đầu tư của khu vực. Thiếu liên kết hoạt động giữa các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ trong và ngoài vùng. Có thể nói phát triển kinh tế vùng ĐBSCL chưa ổn định và bền vững, chủ yếu dựa vào khai thác các tiềm năng sẵn có.

Bên cạnh đó, đầu tư vào vùng ĐBSCL rất hạn chế, chỉ chiếm khoảng 13,6% tổng đầu tư quốc gia, cơ cấu đầu tư từ nguồn vốn của ngân sách là 16,5%. Vốn tín dụng ngân hàng tuy là nguồn lớn nhất nhưng cũng chỉ chiếm khoảng 9% tổng dư nợ cho vay của ngành Ngân hàng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng rất thấp, giai đoạn 2001-2010 số dự án được cấp giấy phép của vùng chỉ chiếm 3,6% số dự án với tổng vốn đăng ký chiếm 7,7% của cả nước. Thiếu nguồn FDI, vùng ĐBSCL ít nhất có điều kiện phát huy tốt hơn nội lực thông qua việc sử dụng các công nghệ hiện đại và cách quản lý tiên tiến, không tận dụng và phát huy hết các lợi thế so sánh của nội vùng.

Do đó, những thách thức mà vùng ĐBSCL đang phải đối mặt trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư theo hướng CNH-HĐH để hội nhập kinh tế quốc tế là: thiếu các nguồn lực đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng để phát triển kinh tế - xã hội; Ngành công nghiệp, xây dựng còn lạc hậu về trang thiết bị và công nghệ, công nghiệp nguồn và công nghiệp bổ trợ hầu như chưa có dịch vụ cấp thấp, đất canh tác giảm, tài nguyên cạn kiệt dần, lũ lụt, lao động qua đào tạo thấp, lệ thuộc ngày một nhiều vào thành phố Hồ Chí Minh…

            Tín dụng ngân hàng thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL:

Cơ chế chính sách:

Từ năm 2011, NHNN đã chỉ đạo các TCTD chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa sử dụng nhiều lao động, các dự án, phương án có hiệu quả.

Riêng về lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, để khuyến khích hệ thống ngân hàng tập trung vốn và giảm chi phí cho vay lĩnh vực này, NHNN đã ban hành nhiều cơ chế chính sách ưu đãi đối với các tổ chức tín dụng mở rộng cho vay lĩnh vực này. Trong đó, NHNN áp dụng tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng VND thấp hơn so với tỷ lệ dự trữ bắt buộc thông thường đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn cao và hàng năm, dành lượng tiền cung ứng để tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng cho vay phát triển nông nghiệp, nông thôn phù hợp với mục tiêu, biện pháp điều hành chính sách tiền tệ; các khoản cho vay tái cấp vốn đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn được NHNN ưu tiên về thời hạn và nguồn vốn cho vay, so với các lĩnh vực khác.

Sang năm 2012, NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD tập trung vốn hỗ trợ cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, sản xuất hàng xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp vừa và nhỏ sử dụng nhiều lao động, các dự án, phương án có hiệu quả. Đồng thời, NHNN sẽ áp dụng thêm một số giải pháp thúc đẩy cho vay nông nghiệp, nông thôn như: (1) Tích cực phối hợp với các Bộ, ngành liên quan cũng như các Ban chỉ đạo miền Tây Nam Bộ, Tây Bắc... chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung vốn cho vay chương trình xây dựng nông thôn mới, nhất là cho vay đối với nhu cầu nâng cao quá trình cơ giới hoá và áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp, nông thôn; (2) Lấy NHNo&PTNT làm trụ cột trong cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn với mục tiêu đặt ra cho Ngân hàng này là thường xuyên duy trì tỷ trọng dư nợ tín dụng phục vụ nông nghiệp và nông thôn từ 75 - 80% tổng dư nợ; (3) Yêu cầu tất cả các tổ chức tín dụng khác phải đạt tỷ trọng dư nợ nông nghiệp, nông thôn ít nhất khoảng 20% tổng dư nợ, những TCTD không có điều kiện cho vay lĩnh vực nông nghiệp nông thôn thì dành một lượng vốn tương ứng để uỷ thác cho NHNo&PTNT cho vay lĩnh vực này.

Tình hình hoạt động ngân hàng nhằm thúc đẩy CDCCKT vùng ĐBSCL:

Hiện tại, mạng lưới ngân hàng đã có mặt ở khắp 13 tỉnh thành của khu vực với hàng trăm chi nhánh của 5 ngân hàng thương mại nhà nước (Ngoại thương, Công thương, Đầu tư, Nông nghiệp, Ngân hàng Phát triển nhà ĐBSCL), 01 Ngân hàng Chính sách xã hội, 36 Ngân hàng thương mại cổ phần, 1 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 1 ngân hàng liên doanh, 01 Quỹ tín dụng nhân dân, 01 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài và các TCTD khác. Với mạng lưới chi nhánh trải khắp các tỉnh, thành, huyện, xã thì hệ thống ngân hàng đã không ngừng tăng nhanh nguồn vốn huy động tại chỗ để cho vay đầu tư phát triển chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng. Nếu như năm 2001, nguồn vốn huy động của vùng chỉ đạt 9.402 tỷ đồng thì đến năm 2005 nguồn vốn huy động đã đạt 28.142 tỷ đồng (tăng gần 3 lần so với năm 2001), và đến năm 2010 nguồn vốn huy động đạt 144.082 (tăng trên 5 lần so với năm 2005). Sự tăng trưởng cao của nguồn vốn huy động đã giúp hệ thống ngân hàng khu vực ĐBSCL có điều kiện mở rộng tín dụng, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và xoá đói giảm nghèo và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của vùng.

Trong những năm qua, tín dụng ngân hàng đã góp phần quan trọng trong hoạt động sản xuất hàng hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của ĐBSCL. Nếu như năm 2001, dư nợ cho vay vùng ĐBSCL chỉ đạt 23.430 tỷ đồng, thì đến năm 2010 dư nợ cho vay vùng ĐBSCL đã tăng hơn 9 lần và đạt 216.945 tỷ đồng (chiếm tỷ trọng 9,58% tổng dư nợ cho vay nền kinh tế), có thể thấy dư nợ tín dụng vùng ĐBSCL liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước.

Dư nợ và tỷ trọng tín dụng vùng ĐBSCL giai đoạn 2001-2010

Đơn vị: Tỷ đồng

Năm

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

Dư nợ tín dụng vùng ĐBSCL

23.430

38.342

47.129

53.024

62.253

76.014

103.775

125,581

170.723

216945

Tỷ trọng so với toàn quốc (%)

10.70

13.41

12.90

11.50

11.24

11.42

10.32

9.88

9.89

9.58

Nguồn: NHNN

Về cơ cấu vốn tín dụng, thời gian qua hoạt động tín dụng ngân hàng khu vực ĐBSCL đã tập trung đầu tư vốn theo chủ trương của Đảng và Nhà nước về chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tính đến cuối tháng 12/2011, dư nợ tín dụng vùng ĐBSCL đạt 213.594 tỷ đồng, trong đó nguồn vốn tập trung cho vay đối với các ngành công nghiệp, xây dựng chiếm 55,75% tổng dư nợ, tiếp đến là khu vực nông, lâm, ngư nghiệp với tỷ trọng 25,82%, và dịch vụ chiếm 18,4% tổng dư nợ.

Nếu xét riêng ngành công nghiệp xây dựng, thì dư nợ cho vay đối với ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 43.060 tỷ đồng (chiếm 20,16% tổng dư nợ), ngành xây dựng đạt 14.470 tỷ đồng (chiếm 6,77% tổng dư nợ), điều này cho thấy, ngành ngân hàng đang chuyển dịch cơ cấu tín dụng vào tập trung cho vay đối với các ngành công nghiệp, xây dựng nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Dư nợ tín dụng vùng ĐBSCL năm 2011 phân theo ngành kinh tế

Đơn vị: Tỷ đồng

 

Dư nợ cho vay

Tỷ trọng

Tổng dư nợ

213.594

100%

- Ngắn hạn

157.491

73,73%

- Trung, dài hạn

56.103

26,27%

Phân theo ngành

- Nông, lâm, ngư nghiệp

55.136

25.82%

- Công nghiệp, xây dựng

119.143

55,78%

- Dịch vụ

39.315

18,4%

Nguồn: NHNN

Nhìn chung, trong hơn 10 năm qua, hệ thống Ngân hàng đã không ngừng đổi mới toàn diện cả về tư duy lẫn hành động, tích cực triển khai kịp thời, đồng bộ các cơ chế, chính sách một cách chủ động, linh hoạt nhằm tăng cường đầu tư vốn cho phát triển nông nghiệp, nông thôn. Nhờ đó, dư nợ tín dụng đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn liên tục tăng cao, năm sau cao hơn năm trước. Kết quả đó thể hiện những tâm huyết, nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc góp phần thực hiện nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao phó trong sự nghiệp phát triển triển kinh tế xã hội vùng ĐBSCL theo hướng Công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Một số tồn tại hạn chế trong hoạt động ngân hàng ở vùng ĐBSCL

- Tỷ trọng vốn cho vay trung, dài hạn thấp và có xu hướng giảm: đến cuối năm 2011, tỷ trọng cho vay trung, dài hạn ở khu vực ĐBSCL là 26,27% trong tổng dư nợ và thấp hơn nhiều so với các năm trước. Vấn đề này xuất phát từ việc huy động vốn trong năm 2010 và 2011 gặp khó khăn, đồng thời việc huy động vốn trung, dài hạn của hệ thống ngân hàng còn hạn chế.

- Chất lượng tín dụng còn tiềm ẩn nhiều rủi ro, tỷ lệ nợ xấu cao: Nguyên nhân do các TCTD gặp khó khăn trong việc thu hồi vốn vì các hộ vay vốn phần lớn rất nghèo, khả năng trả nợ có hạn. Ngoài ra, hoạt động sản xuất kinh doanh của các hộ nông dân vùng ĐBSCL phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, ngập lũ, nước mặn dâng cao, dịch bệnh,... ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống cũng như khả năng trả nợ của nông dân, điều này dẫn đến hiệu quả tín dụng đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế hạn chế.

Định hướng cơ bản chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL giai đoạn 2011-2020 và một số giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu vùng ĐBSCL:

- Định hướng phát triển vùng ĐBSCL giai đoạn 2011-2020:

Bám sát định hướng phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh, quốc phòng vùng đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2011-2020 được Chính phủ phê duyệt, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011-2020, trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp, toàn vùng cần nỗ lực phấn đấu với tốc độ nhanh, mạnh, hiệu quả cao hơn, để đạt được mục tiêu phương hướng đề ra: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2011-2020 của vùng ĐBSCL đạt 12-13%; tỷ trọng nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP giảm xuống còn 30-31%, công nghiệp - xây dựng tăng lên 35-36%, khu vực dịch vụ 33-34%. Thu nhập GDP bình quân đầu người phấn đấu đến năm 2015 đạt khoảng 50 triệu đồng (tương đương 2.130 USD) và đạt khoảng 70 triệu đồng (tương đương 3.200 USD) vào năm 2020. Những khâu đột phá của vùng được xác định trong 10 năm tới là tập trung phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội như giao thông, thuỷ lợi, giáo dục đào tạo, y tế, dạy nghề và xây dựng nông thôn mới kết hợp với phát triển hợp lý các đô thị trung tâm và các khu công nghiệp đã được qui hoạch.

Một số giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL giai đoạn 2011-2020:

- Đối với hệ thống ngân hàng:

+ NHNN Việt Nam chỉ đạo các NHNN chi nhánh tỉnh, thành phố thuộc khu vực ĐBSCL tổ chức gặp gỡ, trao đổi với các Hiệp hội ngành nghề, các TCTD trên địa bàn nhằm giải quyết các vấn đề tồn tại, vướng mắc về các cơ chế, chính sách có liên quan để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn vay của ngân hàng và tiếp cận được các sản phẩm dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Đặc biệt là vùng Đồng đồng bằng sông Cửu Long.

+ Các TCTD tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp huy động vốn, gia tăng việc huy động vốn dài hạn với mức độ hợp lý hơn để tránh rủi ro thanh khoản.

+ Các TCTD cần đẩy mạnh cho vay các dự án, vùng sản xuất hàng hóa xuất khẩu có giá trị khai thác tiềm năng của vùng, cho vay ngành công nghiệp chế biến sau thu hoạch, công nghiệp chế biến thủy hải sản, lương thực, hoa quả và các ngành dịch vụ. Đồng thời, cần đẩy mạnh xử lý nợ tồn đọng, hạn chế nợ xấu mới phát sinh nhằm nâng cao chất lượng tín dụng một cách bền vững.

+ Các TCTD cần đổi mới, cải tiến thủ tục cho vay để tiết kiệm được các chi phí gián tiếp khi tiếp cận nguồn vốn của ngân hàng đối với doanh nghiệp, hộ nông dân, nhưng vẫn phải đảm bảo an toàn.

+ Các ngân hàng khi cho vay cần tư vấn cho các hộ sản xuất một phương án theo quy trình khép kín (từ sản xuất - chế biến đến tiêu thụ hàng hoá, sản phẩm). Căn cứ trên kế hoạch, phương án kinh doanh, dự án đầu tư để hoạch định nguồn vốn đáp ứng sao cho mọi giai đoạn của quy trình được thực hiện thông suốt. Tạo thuận lợi cho cả người vay và ngân hàng trong quá trình cho vay sản xuất và thu nợ khi sản phẩm được tiêu thụ.

- Đối với 13 tỉnh Đồng Bằng Sông Cửu Long:

+ Cần phát triển nông nghiệp chế biến theo hướng đa dạng hóa sản phẩm, thâm canh dựa trên lợi thế của từng tiểu vùng; hình thành các vùng cây chuyên canh có năng suất, chất lượng cao, đặc biệt là lúa, cây ăn trái, cây công nghiệp ngắn ngày. Phát triển mạnh các cây trồng làm nguyên liệu công nghiệp và chế biến thức ăn gia súc.

+ Phát triển nuôi trồng thủy sản (gắn với hệ thống thủy lợi đa mục tiêu) và tăng cường chế biến nông, thủy sản. Kết hợp chặt chẽ giữa sản xuất với bảo vệ môi trường sinh thái từng khu vực, trước hết là vùng rừng ngập mặn ven biển, Tứ giác Long Xuyên, Tây sông Hậu, bán đảo Cà Mau, vùng ngập nước Đồng Tháp Mười.

+ Phát triển mạnh công nghiệp, nhất là công nghiệp vừa và nhỏ. Sớm khai thác tiềm năng khí vùng biển Tây Nam để phát triển công nghiệp khí - điện - đạm. Phát triển có hiệu quả các khu công nghiệp, vận tải biển. Tiếp tục nâng cao năng lực sản xuất, chế biến và chất lượng hàng nông thủy sản xuất khẩu, vật liệu xây dựng, phát triển mạnh công nghiệp cơ khí phục vụ nông - ngư - nghiệp.

+ Phát triển mạnh thương mại, dịch vụ, du lịch, nhất là du lịch sinh thái, sông nước, tăng cường hợp tác về du lịch tạo ra những sản phẩm riêng của từng địa phương, tránh trùng lắp, đưa Phú Quốc trở thành trung tâm du lịch, giao thương quốc tế. Xây dựng Cần Thơ là trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ để làm đầu mối, động lực cho toàn vùng; Xây dựng một số trung tâm thương mại cấp tỉnh.

+ Đầu tư lớn cho đào tạo nhân lực, đổi mới máy móc, thiết bị, đưa tiến bộ khoa học vào sản xuất.

+ Cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

NCTH-VP

 

  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Thanh tra kiểm soát
OTHER NEWS
Hồng Kông và Kế hoạch phát triển Fintech đến năm 2030
9/4/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
Fed tái định hình giám sát ngân hàng: Thu gọn phạm vi, tập trung rủi ro cốt lõi
8/1/26
Dự thảo Nghị định về Tiền di động: Tạo thuận lợi gắn với kiểm soát rủi ro
6/12/26
Triển vọng Fintech toàn cầu: Từ tăng trưởng nhanh sang tăng trưởng bền vững
3/7/26
Chuyển đổi số ở các ngân hàng thương mại Việt Nam: Thành tựu, thách thức và một số kiến nghị hoàn thiện
2/7/25
Tăng cường ổn định tài chính nâng cao khả năng chống chịu trong bối cảnh kinh tế hiện nay
3/6/25
Lộ trình giảm lãi suất trong năm 2025 được mở ra từ Fed
2/6/25
ECB cảnh báo nguy cơ suy giảm niềm tin ngân hàng từ tài sản mã hóa
5/6/25
ECB điều chỉnh chính sách trong bối cảnh lạm phát hạ nhiệt
6/6/25
Showing 1 to 10 of 1987
  • 1
  • 2
  • 3
  • 199
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready