Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Hợp tác nghiên cứu

Nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ của thiên đường tài chính tại Síp

18/04/2013 16:26:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

Nước Cộng hòa Síp gia nhập Liên minh Châu Âu (EU) từ năm 2004, có dân số 829 ngàn người với kinh tế chỉ chiếm khoảng 0,2% tổng sản lượng (GDP) khu vực đồng tiền chung Châu Âu (Eurozone). Hệ thống ngân hàng của Síp có quy mô lớn và là ngành chủ chốt trong nền kinh tế Síp, mang lại GDP trên đầu người hơn 30.000 USD mỗi năm (gần bằng Tây Ban Nha và vượt xa những quốc gia Đông Âu).

Vài nét về một “thiên đường tài chính” của Châu Âu

Khu vực tài chính Síp, mà trung gian tài chính chủ chốt là hệ thống ngân hàng có quy mô lớn trong nền kinh tế nước này với tổng tài sản chiếm 750% GDP, hơn gấp đôi trung bình khu vực Châu Âu. Nếu tính về tổng tài sản ngân hàng/GDP, Síp đứng thứ 4 khu vực, sau Luxembourg (2447% GDP), Ai-Len (817% GDP), và Malta (777% GDP). Hoạt động chính của các ngân hàng thương mại tập trung chủ yếu vào cho vay và đầu tư (chiếm khoảng 85%) và các thị trường mà các ngân hàng Síp phát triển là khu vực Châu Âu, lớn nhất là Hy Lạp và Nga.

Hệ thống ngân hàng Síp có tổng số 136 tổ chức tài chính – tiền tệ, được chia thành 02 khu vực (theo phân chia của Ủy ban Châu Âu): (i) Khu vực chịu sự giám sát trong nước (domestically supervised segment) có tổng tài sản gần 126 tỷ Euro (gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã và chi nhánh nước ngoài); và (ii) Khu vực chịu sự giám sát nước ngoài (foreign supervised segment) có tổng tài sản là 20,2 tỷ Euro (gồm các ngân hàng và chi nhánh nước ngoài chịu sự giám sát của Chính phủ nước đó). Trong đó, hai ngân hàng lớn nhất là Ngân hàng Síp (Bank of Cyprus) và Cyprus Popular Bank (Laiki Bank) chiếm đến gần 50% tổng tài sản và 44% thị phần tiền gửi của toàn hệ thống:

Bảng 1: Tài sản của các ngân hàng lớn nhất ở Síp

 

Tài sản

Tỷ Euro

Thị phần

% tổng tài sản

Tài sản

% GDP

Bank of Cyprus

37,835

28,2

211,0

Cyprus Popular Bank

34,077

25,4

190,1

Hellenic Bank

8,279

6,2

46,2

Tổng

80,191

59,8

447,3

 

Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ trước, Síp đã được ví như “thiên đường tài chính” của các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt là Nga, Hy Lạp và Anh bởi 02 nguyên nhân chính: (i) Thuế thu nhập doanh nghiệp rất thấp, chỉ khoảng 10%; và (ii) Lãi suất tiền gửi cao, lên đến 13%.

Theo ước tính của Alfa Bank (Nga), trong hai thập kỷ vừa qua đã có khoảng 70 tỷ USD dòng vốn tiết kiệm từ Nga chảy vào Síp. Hơn nữa, dòng vốn đầu tư trực tiếp của Nga vào Síp tính riêng năm 2011 cung lên tới 121,6 tỷ USD. Theo Moody’s, tính đến cuối năm 2012, các ngân hàng Nga có khoảng 12 tỷ USD tại các ngân hàng của Síp và tiền gửi của các doanh nghiệp Nga tại các ngân hàng này vào khoảng gần 30 tỷ USD. Theo sau Nga, nhiều nhà đầu tư Hy Lạp và Anh cũng đổ tiền mạnh vào Síp trong bối cảnh Châu Âu và Mỹ đang phải khắc phục hậu quả nặng nề từ cuộc suy thoái kinh tế và khủng hoảng tài chính toàn cầu. Ngân hàng Berenberg (Đức) cho biết, tính đến tháng 9-2012, số tiền của người Hy Lạp gửi tại hai ngân hàng lớn nhất của Síp đã lên tới 12,5 tỷ Euro. Theo báo The Independent của Anh, hơn 60.000 công dân nước này đang sống ở Síp với số tiền gửi ngân hàng vào khoảng 2 tỷ Euro. Nhiều người Anh, nhất là các nhà đầu tư, bị thu hút tới Síp còn là do thủ tục ngân hàng đơn giản và lãi suất ở đây cao hơn nhiều so với Anh. Hoạt động trung chuyển vốn từ Tây sang Đông, từ Bắc xuống Nam qua “cửa ngõ” Síp đã mang lại cho hệ thống ngân hàng nước này một lượng tài sản khổng lồ, gấp 8 lần so với quy mô nền kinh tế. Việc lựa chọn mô hình phát triển kinh tế dựa vào dịch vụ tài chính đã gặt hái được thành công đáng kể, đóng góp 80% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và cung cấp 70% tổng số việc làm cho người lao động.

Tuy nhiên, bắt nguồn từ tác động nặng nề của khủng hoảng tài chính toàn cầu và nợ công ngày càng gia tăng ở các nước Châu Âu, đặc biệt là Hy Lạp, đã khiến kinh tế Sip dần rơi vào suy thoái. Các ngân hàng Síp dần mất thanh khoản do những tổn thất nặng nề từ việc đầu tư quá nhiều vào Hy Lạp. Để tránh tình trạng sụp đổ tài chính, Síp cần tới 17 tỷ euro, một khoản tương đương với GDP của nước này (18 tỷ euro), trong đó 10 tỷ euro để khôi phục thanh khoản cho hệ thống ngân hàng Síp và 7 tỷ Euro còn lại để trả nợ công.

Khởi nguồn của khủng hoảng tài chính ở Síp

Sau khủng hoảng bất động sản dưới chuẩn ở Mỹ năm 2007 – 2008 với nhiều ảnh hưởng nghiêm trọng lên nền kinh tế toàn cầu, đặc biệt là vấn đề nợ công trong khu vực Châu Âu, kinh tế Síp rơi vào tăng trưởng âm, thất nghiệp gia tăng, thâm hụt ngân sách và nợ công cao (xem Hình 1), dẫn đến mức xếp hạng tín dụng của nước này ngày càng bị hạ thấp, cụ thể:

Về tăng trưởng sản lượng kinh tế: GDP tăng trưởng âm ở mức 1,67% năm 2009 do sự giảm mạnh của ngành du lịch và tàu thủy (vốn là 02 ngành đầu tàu của Síp). Từ năm 2010 đến 2012, tăng trưởng kinh tế của Síp vẫn thấp và chưa thể khôi phục lại như trước năm 2009. Giữa năm 2011, kinh tế Síp rơi vào cơn suy thoái thứ hai với GDP giảm liên tiếp từ -0,3% quý III xuống tiếp -3,3% trong quý IV/2012.

Về tỷ lệ thất nghiệp: Tiếp đà giảm tăng trưởng GDP từ năm 2009, Síp đã trải qua thời kỳ gia tăng thất nghiệp triền miên và đưa nước này dần bước vào suy thoái. Tính đến tháng 02/2013, tỷ lệ thất nghiệp đã lên tới 14%, gấp đôi so với đầu năm 2011. 

Về thâm hụt ngân sách và nợ công: Thất nghiệp gia tăng khiến cho chi phí trợ cấp thất nghiệp ngày càng lớn và đẩy nợ công lên cao. Nợ công của Síp từ mức dưới 50% năm 2008 lên đến 87% năm 2012, dự báo có thể đạt 93% và 97% cho 02 năm tiếp theo và có nguy cơ lên 100% vào năm 2020. Thâm hụt ngân sách vì thế cũng đạt mức cao trong khoảng 5,3 – 6,3% trong 04 năm gần đây, từ năm 2009 đến 2012.

 

                                                                        Hình 1: Các chỉ số vĩ mô của Síp

 

Nguyên nhân chính gây nên khủng hoảng tài chính ở Síp

Khủng hoảng thật sự bùng nổ bắt đầu từ sự kiện ngày 19/3/2013 ngay khi Cộng hòa Síp đưa ra kế hoạch đánh thuế tiền gửi tiết kiệm nhằm đổi lấy gói cứu trợ 10 tỷ Euro từ bộ ba Ủy ban Châu Âu (EC), Ngân hàng trung ương Châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) khiến cho các thị trường trong và ngoài nước có những phản ứng gay gắt. Theo đó, EU đã yêu cầu Síp áp mức thuế 9,9% đối với những khoản gửi trên 100.000 Euro, 6,7% đối với các khoản gửi dưới 100.000 Euro bắt đầu từ ngày 19/3. Đây là lần đầu tiên liên minh này đặt ra các điều khoản như vậy trong một gói giải cứu.

Ngay sau thông tin này, đông đảo người dân Cộng hòa Síp đã đổ xô tới các máy ATM rút tiền mặt. Nhiều ngân hàng buộc phải giới hạn mức rút ở con số 400 Euro và nhiều máy ATM không còn tiền để phục vụ. Một số ngân hàng khác đóng cửa các ngày 19 và 20/3 để chờ quyết định của Quốc hội trong cuộc bỏ phiếu ngày hôm nay. Diễn biến tại CH Síp khiến nhiều người lo ngại một cuộc khủng hoảng mới sẽ nổ ra ở Eurozone. Tâm trạng tiêu cực còn được phản ứng ngay lập tức trên các thị trường chứng khoán toàn cầu khi các chỉ số chứng khoán cũng như lợi tức trái phiếu ở những thị trường chủ chốt như Mỹ, Nhật, Châu Âu và thị trường mới nổi đồng loạt giảm mạnh.

Vậy nguyên nhân chính từ đâu mà Chính phủ Síp phải nỗ lực thương lượng với bộ ba chủ nợ để nhận được gói cứu trợ 10 tỷ Euro cho dù các điều kiện đưa ra là quá hà khắc?

Sự mạo hiểm trong hoạt động và những ưu đãi về chính sách thu hút đầu tư

Với mong muốn Cộng hòa Síp trở thành nơi thu hút đầu tư lớn từ khắp nơi trên thế giới, ngay từ đầu những năm 90, Chính phủ Síp đã thực hiện chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp rất thấp, chỉ khoảng 10%, bằng ½ so với Nga và 1/3 so với một số nước khác trong khu vực; và lãi suất tiền gửi có lúc lên đến 13%, cao gấp nhiều lần so với Anh (khoảng 0,5 – 2%) cũng như nhiều quốc gia khác.

Mặc dù khủng hoảng tài chính toàn cầu vẫn đang tác động tiêu cực lên các nền kinh tế Châu Âu nhưng Síp vẫn tiếp tục mạnh tay nới lỏng các quy định về tài chính, thiết lập hành lang pháp lý và cơ chế nới lỏng, dễ tiếp cận và áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp thấp. Nhờ những ưu đãi đó mà các nhà đầu tư nước ngoài đã thông qua Síp để thâm nhập thị trường Tây Âu. Các nước Tây Âu cũng sử dụng Síp như một nơi để trung chuyển nguồn vốn đầu tư ra thế giới và lợi dụng chính sách thông thoáng của Síp để tranh thủ đầu cơ. Tốc độ tăng trưởng dòng vốn quá nóng dựa trên nền tảng không vững vàng khiến hệ thống ngân hàng Síp ngàn càng bộc lộ nhiều bất cập.

Đầu tư quá lớn vào Hy Lạp

Có trong tay dòng vốn lớn từ nước ngoài, các ngân hàng của Síp đã mạnh tay đầu tư vào trái phiếu chính phủ của Hy Lạp. Tuy nhiên, khi Hy Lạp phải đối mặt với khủng hoảng nợ công và đứng trước bờ vực phá sản, buộc EU phải tiến hành tái cơ cấu các khoản nợ của nước này đã khiến cho hệ thống ngân hàng Síp phải chịu tổn thất lớn. Tỷ lệ thanh khoản của các ngân hàng Síp, đặc biệt là Cyprus Popular Bank, rơi xuống dưới mức kiểm soát, chất lượng tài sản giảm mạnh khiến dự phòng rủi ro phải tăng lên làm giảm lợi nhuận của cả hệ thống. Tổng nguồn vốn thất thoát của khu vực ngân hàng Síp vào khoảng 25 tỷ Euro, sau khi giá trị trái phiếu chính phủ Hy Lạp giảm 60%, chiếm khoảng 144% GDP của nước này. Riêng các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tất cả các trái phiếu chính phủ Hy Lạp (chiếm khoảng 2,5 tỷ Euro) đã được chuyển lên ngân hàng mẹ từ tháng 3/2012 nên đã loại bỏ phần lớn rủi ro thất thoát; chỉ còn thất thoát 1 tỷ Euro trái phiếu ngân hàng Hy Lạp sẽ được bù đắp bằng tiền ký quỹ từ ngân hàng mẹ.

Bảng 2: Tổn thất của các ngân hàng trong nước và chi nhánh nước ngoài ở Síp

Nguồn: Ngân hàng trung ương Síp và tính toán của ECFIN

Hai ngân hàng lớn nhất là Bank of Cyprus và Laiki Bank đối mặt với tổn thất nghiêm trọng từ việc nắm giữ trái phiếu chính phủ Hy Lạp khi toàn bộ lượng trái phiếu này bị mất giá trị trên 74%. Tổng thất thoát của hai ngân hàng này vào cuối năm 2011 do trái phiếu chính phủ Hy Lạp và các nguồn vay trực tiếp của Hy Lạp chiếm lần lượt 28% và 36,7% tổng tài sản mỗi ngân hàng, tương đương với giá trị trái phiếu danh nghĩa bị chiết khấu 74%. Giá cổ phiếu của hai ngân hàng lớn trên thị trường cũng theo đó mà tụt dốc theo diễn biến của Hy Lạp.

Bảng 3: Tổn thất của hai ngân hàng đối với đầu tư vào Hy Lạp (cuối năm 2011)

Từ hàng loạt tổn thất do những khoản vay của Hy Lạp, hệ thống ngân hàng của Síp đã phải đối mặt với rủi ro nợ xấu tăng cao gây áp lực cho các ngân hàng giảm lãi suất, mất doanh thu và phải nỗ lực tái cơ cấu vốn. Nợ xấu đã tăng từ năm 2008 và chất lượng tài sản giảm đáng kể trong nửa cuối năm 2011. Tính đến cuối năm 2011, tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ (NPLs) của Bank of Cyprus là 10,2%, trong khi đó Laiki lên đến 13,9%, chủ yếu từ các khoản vay của khu vực tư nhân Hy Lạp. Bên cạnh đó, lợi nhuận cũng như hệ số sinh lời trên tổng tài sản (ROA) cũng xuống mức âm. Tỷ lệ nợ/tổng tiền gửi ở khu vực ngân hàng tăng đến 112,7%, chủ yếu do dòng tiền lớn chảy ra từ các chi nhánh ngân hàng Hy Lạp. Toàn bộ nguồn vốn huy động nhanh chóng giảm 11% vào cuối năm 2011, trong đó 10% ở Bank of Cyprus và 21% ở Laiki Bank. Chính vì vậy, chính sách bảo hiểm tiền gửi cũng phải đẩy mạnh từ cuối năm 2009 với mức tối đa tăng từ 20.000 đến 100.000 Euro.

Bảng 4: Các chỉ số tài chính cơ bản của hai ngân hàng lớn từ 2008 – 2011

Nguồn: Báo cáo tài chính năm 2008 – 2011 của Bank of Cyprus và Cyprus Popular Bank

Hạ bậc xếp hạng tín dụng

Do tiến độ cải tổ tài khóa và cơ cấu quá chậm cùng những lo ngại về tình hình vĩ mô ở Síp, đặc biệt sau vụ nổ căn cứ Evangelos Florakis Naval vào tháng 7/2011, tất cả các tổ chức xếp hạng tín dụng lớn đã đồng loạt hạ bậc tín dụng của Síp. Cùng thời điểm đó, lợi tức trái phiếu dài hạn cũng tăng trên 12%. Ngày 13/3/2012, Moody’s hạ bậc tín dụng của Síp xuống mức B3 – mức không nên đầu tư (Junk status) và cảnh báo Chính phủ Síp phải bơm thêm vốn vào các ngân hàng để bù lỗ do hoán chuyển nợ Hy Lạp. Ngày 25/6/2012, Fitch hạ bậc trái phiếu của Síp xuống BB-, trong khi đó S&P cũng hạ xuống CCC+ - mức không có khả năng thanh toán (xem Bảng 5).

 Bảng 5: Xếp hạng tín dụng trái phiếu của Síp

Nước

S&P

Moody’s

Fitch

TE

Đánh giá

Triển vọng

Đánh giá

Triển vọng

Đánh giá

Triển vọng

Đánh giá

Triển vọng

CH. Síp

CCC+

Âm

B3

RUR-

BB-

Âm

31,25

Âm

Trước mối đe dọa buộc phải tuyên bố phá sản và rời khỏi khu vực đồng tiền chung Châu Âu, Cộng hòa Síp đã phải cầu cứu các khoản cứu trợ, đầu tiên là vay khẩn cấp từ Nga và tiếp đến là khoản 10 tỷ Euro từ bộ ba Liên minh châu Âu (EU), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF); sau đó là những nỗ lực thỏa thuận với các nhà đầu tư quốc tế, đặc biệt là Nga và huy động thêm vốn để tăng nguồn cứu trợ cho cả hệ thống tài chính. Cho dù sau Síp đã thoát khỏi tình trạng vỡ nợ nhưng trong thời gian tới, đảo quốc này sẽ phải đương đầu với hàng loạt khó khăn trong quá trình ổn định kinh tế - xã hội:

Những khó khăn của Síp sau gói cứu trợ

Mất niềm tin từ giới đầu tư

Trên thực tế, Chính phủ Síp được dành quyền phong tỏa dòng lưu thông tiền tự do ở trong nước và điều đó cũng là biện pháp cho phép để tránh bị rút lượng vốn từ các ngân hàng một cách ồ ạt, nhưng biện pháp này chỉ là tạm thời và trong thời gian tới nó vẫn không được coi là giải pháp cứu vãn Síp khỏi tình trạng thất thoát tư bản từ dòng vốn chảy ra bên ngoài. Ở đây, không sớm thì muộn, niềm tin của các nhà đầu tư trong và ngoài nước sẽ mất không bằng cách này thì sẽ bằng cách khác, và dòng tiền rút khỏi các ngân hàng Sip là không thể tránh khỏi. Trong khi đó, quan hệ song phương với các nước, sẽ có ảnh hưởng không nhỏ, trước hết là quan hệ thương mại, đầu tư có liên quan đến hệ thống ngân hàng Síp.

Viễn cảnh vĩ mô ảm đạm

Khi giới đầu tư quốc tế mất niềm tin và tìm nơi trung chuyển khác, nền kinh tế quá phụ thuộc vào hệ thống tài chính được dự báo sẽ lâm vào suy thoái, thất nghiệp gia tăng (khoảng 11.000 nhân viên ngành ngân hàng của Cộng hòa Síp đang đối mặt với nguy cơ thất nghiệp do các biện pháp tái cơ cấu ngân hàng mà Chính phủ sẽ thực hiện), bất ổn xã hội bùng phát. GDP của Síp dự báo sẽ giảm 15% trong năm 2013 và 5% năm 2014; tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng 17% trong năm 2013 và 25% năm 2014. Viễn cảnh mờ mịt này đang chờ đợi nền kinh tế Síp ngay cả khi đã nhận được cứu trợ.

Phản ứng mạnh mẽ của người dân

Hàng loạt những phản ứng và đáp trả đối với chính sách thắt lưng buộc bụng của kế hoạch cứu trợ xảy ra ở Síp. Ngay từ khi cuộc thương lượng Troika đang diễn ra, ngày 8/11/2012, Ủy ban Hội Cánh tả (ERAS) đã tổ chức biểu tình ngoài Hạ viện với các biểu ngữ và khẩu hiệu chống lại chính sách này, trong đó đưa ra đề xuất quốc hữu hóa ngân hàng, giảm quân đội và đóng băng ngân sách quân đội, và tăng thuế doanh nghiệp. Các thành viên của Hội Cánh tả theo Chủ nghĩa Quốc tế mới (NEDA) cũng tham gia vào cuộc biều tình ở ngoài Bộ Tài chính tại Nicosia ngày 24/11. Các giảng viên hợp đồng thì chống đối ngoài Hạ viện ngày 29/11 khi 992 người trong số họ sẽ bị sa thải vào năm tới. Một số gia đình bị nhà nước cắt giảm lợi ích cũng biểu tình ngoài Hạ viện. Các thành viên trong Liên đoàn các Tổ chức người khuyết tật (KISOA) thì diễu hành từ Bộ Tài chính đến Hạ viện biểu tình chống lại việc cắt giảm trợ cấp cho người tàn tật. Sau đó là công đoàn ở các trường công lập chống đối ngoài Bộ Tài chính cũng như Hạ viện do cắt giảm chi tiêu giáo dục và sa thải giáo viên. Nếu Chính phủ Síp không có những biện pháp trấn an dân chúng hiệu quả, cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay có thể sẽ gây ra cuộc khủng hoảng xã hội trầm trọng với hậu quả khôn lường.

Sự gia tăng quyền lực của Đức với Síp

Gói cứu trợ 10 tỷ Euro từ các tổ chức Châu Âu dành cho Síp đã buộc nước này đứng trước sự áp đặt của các nước lớn trong châu lục, cụ thể là Đức. Mặc dù Ủy ban châu Âu, IMF và ECB dẫn đầu trong các cuộc đàm phán về gói cứu trợ dành cho Cộng hòa Síp, nhưng rõ ràng không có vấn đề nào được thông qua mà lại không có tác động hay sự đồng ý của Đức. Quan điểm rõ ràng và nhất quán của Berlin về những nước có nợ công cao ở châu Âu là sự hoang phí tài chính và mô hình kinh doanh sai lầm. Giải pháp là áp dụng các chính sách thắt lưng buộc bụng đi cùng với cải cách cấu trúc hệ thống tài chính. Những nước phản đối chính sách tiết kiệm cho rằng, đơn thuốc này quá nguy hiểm, nhưng họ lại không đưa ra được các phương án thay thế có đủ sức thuyết phục. Vì thế, Đức với vị thế của mình, đã áp đặt quan điểm này để từ đó định hướng lối chơi trong nỗ lực chung của châu Âu khắc phục khủng hoảng nợ công. Thêm vào đó, vai trò mờ nhạt của Pháp trong giải quyết khủng hoảng cũng dần khẳng định quyền lực của Đức trong khu vực. Ngoài ra, cũng như các nước trước đây trong Eurozone phải xin cứu trợ, việc hệ thống ngân hàng Cộng hòa Síp sụp đổ, Chính phủ tan rã và nước này rời bỏ Eurozone sẽ tạo ra hiệu ứng dây chuyền, kéo theo những hệ lụy tiêu cực đối với toàn bộ châu Âu. Vì thế, EU không thể không cứu Cộng hòa Síp, tuy nhiên điều này đồng nghĩa với việc Cộng hòa Síp sẽ phải trả giá.

  

Kết luận

Mặc dù trước mắt Cộng hòa Síp đã tránh được nguy cơ phá sản, nhưng để giải quyết triệt để những khó khăn vẫn còn hiện hữu đe dọa hệ thống tài chính của nước này thì Síp cần kế hoạch tính toán trong dài hạn. Theo nhận định của Tạp chí Nhà kinh tế (Anh), về lâu dài, để tránh những nguy cơ trên, Síp cần phải dựa vào nội lực của mình, chứ không phải là gói cứu trợ từ bên ngoài, như lực lượng lao động có trình độ; bộ máy công quyền trong sạch, ít tham nhũng; hệ thống luật pháp tương đối hoàn thiện, rất hữu ích cho các ngành dịch vụ phi tài chính.

Bên cạnh đó, người dân Síp cần dựa vào nguồn tài nguyên chiến lược là mỏ khí đốt ở phía Bắc Địa Trung Hải khi trữ lượng khí đốt của họ lên tới 60.000 tỷ feet khối. Nỗ lực tái thống nhất hòn đảo cũng được coi là nhân tố quan trọng, góp phần đẩy lùi nguy cơ khủng hoảng. Theo tính toán của giới phân tích, việc đảo Síp được thống nhất có thể góp thêm 3% vào tốc độ tăng trưởng hằng năm của nền kinh tế.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Central Bank of Cyprus, Annual Report 2011, Monetary financial statistics, Balance Sheet as of Feb 2013, Economic Bulletin as of December 2012

European Commission (2012), European Economy: Macroeconomic Imbalances: Cyprus, Occasional Papers 101, July 2012

Bank of Cyprus & Laiki Bank, Annual report & Financial statements as Dec, 2012

Stephen Long (2013), Behind the Cyprus financial crisis, ABC News

Stephen Castle & David Jolly (2012), Rates on Spanish Bond Soar, The New York Times, retrieved 12 June 2012

Al Jazeera English (2012), Cyprus asks EU for financial bailout – Europe

Cypiot banks to reopen amid criticism of bailout, The Washington Post, March 27, 2013

The Guardian (10 October 2011), Russian loans Cyprus €2.5 billion, Retrieved 13 March 2012

Hadjipapas, Andreas; Hope, Kerin (14 September 2011), Cyprus nears €2.5bn Russian loan deal, The Guardian. Retrieved 13 March 2012

Cyprus eurozone bailout prompts anger as savers hand over possible 10% levy: Angry Cypriots try in vain to withdraw savings as eurozone bailout terms break taboo of hitting bank depositors, The Guardian, Reuters, 16 March 2013

Eurogroup Statement on Cyprus, Eurogroup, 25 March 2013

Cyprus to finance bailout by selling €400mn of gold reserves, Reuters, 10 April 2013

ThS. Hoàng Trà Mi

Viện Chiến lược Ngân hàng


  • aA
  • Categories:
  • Hợp tác nghiên cứu
OTHER NEWS
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
05/01/2025
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Tổng quan về công tác hoàn thiện thể thể chế về tiền tệ và hoạt động ngân hàng giai đoạn 2011-2015
12/10/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Vai trò của Hiệp hội ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
12/04/2016
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Một số hạn chế trong việc áp dụng cơ chế lạm phát mục tiêu ở các nước đang phát triển và bài học cho Việt Nam
11/06/2017
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Tiền điện tử và ảnh hưởng của tiền điện tử tới CSTT
11/04/2016
Mô hình nào cho NHTW để ổn định tài chính?
09/04/2016
Showing 1 to 10 of 94
  • 1
  • 2
  • 3
  • 10
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 5: Lan toả kỹ năng số trong mỗi cán bộ ngân hàng
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready