Skip to Main Content
Lỗi

State bank of vietnam portal

the state bank of viet nam

|
  • News
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Statistics
    • Balance of International Payment
    • Total Liquidity
      • Total Liquidity & Deposits with Credit Institutions
      • Cash in Total liquidity
    • Settlements
      • National Payment System Transactions
      • Domestic Transactions by Means of Payment
      • Trasactions via ATM.POS/EFTPOS/EDC
      • Number of Bank Cards
      • Deposits in Indivisudual Payment Accounts
      • List of Non-Bank Payment Service Suppliers
    • Credit to the Economy
    • Performance of Credit Institutions
      • Key Statistical RatiosKey Statistical Ratios
      • Ratio of loan outstanding over total deposits
      • Ratio of NPLs over Total Loan Outstanding
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
Trang chủ
  • News
  • Press Release
    • Thông tin về hoạt động ngân hàng trong tuần
    • Thông cáo báo chí khác
  • Tỷ giá trung tâm
  • Tỷ giá tham khảo tại giữa đồng Việt Nam và các loại ngoại tệ tại Cục Quản lý ngoại hối
  • Tỷ giá tính chéo của Đồng Việt Nam với một số ngoại tệ để xác định giá tính thuế
  • Lãi suất NHNN quy định
  • Lãi suất thị trường liên ngân hàng
  • Statistics
    • Cán cân thanh toán quốc tế
    • Tổng phương tiện thanh toán
      • Tổng phương tiện thanh toán và Tiền gửi của khách hàng tại TCTD
      • Tiền mặt lưu thông trên tổng phương tiện thanh toán
    • Hoạt động thanh toán
      • Giao dịch của hệ thống thanh toán quốc gia
      • Giao dịch thanh toán nội địa theo các PTTT
      • Giao dịch qua ATM/POS/EFTPOS/EDC
      • Số lượng thẻ ngân hàng
      • Tài khoản tiền gửi thanh toán của cá nhân
      • Các tổ chức CUDVTT không phải là TCTD
    • Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế
    • Hoạt động của hệ thống các TCTD
      • Thống kê một số chi tiêu cơ bản
      • Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi
      • Tỷ lệ nợ xấu trong tổng dư nợ tín dụng
    • Điều tra thống kê
      • Hướng dẫn
      • Phiếu điều tra
      • Điều tra trực tuyến
      • Kết quả điều tra
    • Các văn bản liên quan đến quy định báo cáo thống kê
  • CPI
  • Legal Documents
  • Monetary Policy
    • Orientations for monetary policy management and banking operations
    • Monetary policy decision making authority and monetary policy tools
  • Payment & Treasury
    • SBV responsibilities for payment operations
    • Payment Systems
      • Inter-bank Electronic Payment System
      • Other payment systems
    • Payment System Oversight
      • Thanh toán không dùng tiền mặt
    • Bank Identifification Numbers
    • SBV’s Payment Services Fee Schedule
    • Treasury Operations
    • Danh mục các giao dịch bắt buộc phải thanh toán qua ngân hàng
  • Money Issuance
    • Vietnamese Currency
    • Typical Features
    • Protection of Vietnamese Currency
  • Quản lý hoạt động ngoại hối và hoạt động kinh doanh vàng
  • Cải cách hành chính
    • Tin tức CCHC
    • Bản tin CCHC nội bộ
    • Văn bản cải cách hành chính
    • Phiếu lấy ý kiến giải quyết TTHC
    • Bộ câu hỏi về thủ tục hành chính NHNN
    • Danh mục điều kiện kinh doanh
    • Danh mục báo cáo định kỳ
    • HTQLCL theo tiêu chuẩn ISO
    • Đào tạo ISO
  • Diễn đàn NHNN
    • Hỏi đáp
    • Lấy ý kiến dự thảo VBQPPL
  • About SBV
    • History
    • Major Responsibilities
    • Management Board
    • Former Governors
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác

Kinh tế thế giới 2010 - một năm đầy biến động

11/01/2011 17:10:00
0:00
/
0:00
Giọng Nam
  • Giọng Nam
  • Giọng Nữ

<html>\n <head>\n \n \n <body>\n

Kinh tế thế giới 2010 trải qua một năm đầy những biến động bất ngờ, mà trong đó nổi bật là sự phục hồi kinh tế không đồng đều giữa các khu vực, tình hình nợ công của khu vực châu Âu, nguy cơ lạm phát khiến nhiều nước quyết định thắt chặt chính sách tiền tệ và thị trường tài chính biến động phức tạp.\n

\n \n

Quá trình phục hồi kinh tế diễn ra không đồng đều giữa các khu vực

      Kinh tế Mỹ

Kinh tế Mỹ sau 6 tháng đầu năm tăng trưởng với tốc độ chậm dần 2,7% trong quý I; 1,6% trong quý II đã trở nên khả quan hơn vào quý III- 2,5% và những tháng cuối cùng của năm. Trước tốc độ phục hồi thấp hơn kỳ vọng và chưa thật vững chắc của kinh tế Mỹ, chính quyền nước này quyết định đưa ra gói kích thích kinh tế lần 2 QE2- gói chính sách nới lỏng định lượng lần 2 trị giá 600 tỷ USD vào đầu tháng 11. Bên cạnh đó, chính quyền Mỹ cũng đã tiếp tục gia hạn chương trình cắt giảm thuế trị giá 858 tỷ USD. Các quyết sách của nền kinh tế lớn nhất thế giới gần đây đã tác động tích cực đến diễn biến của nền kinh tế Mỹ vào những tháng cuối năm. Các số liệu công bố ngày 23/12 về tình trạng thất nghiệp, lạm phát, chi tiêu tiêu dùng và khu vực sản xuất đều cho thấy dấu hiệu khả quan: chi tiêu dùng ở Mỹ trong tháng 11/2010 tăng 0,4% so với tháng trước; các số liệu về tình trạng thất nghiệp cũng khả quan hơn.

Tuy nhiên, sự phục hồi của kinh tế Mỹ vẫn còn bấp bênh khi các vấn đề về thất nghiệp và thâm hụt ngân sách lớn chưa được giải quyết triệt để, hiệu quả của gói kích thích kinh tế lần 2 chưa có câu trả lời chính thức. Rất nhiều dự báo cho rằng tỷ lệ thất nghiệp năm sau ở Mỹ vẫn là 9,6%.

      Kinh tế châu Âu

Trong năm 2010, vấn đề nợ công đã làm chao đảo uy tín và vị trí của các nền kinh tế khu vực châu Âu khiến xu hướng hồi phục sau khủng hoảng tại đây diễn ra khá chậm chạp và buộc các nền kinh tế trong khu vực châu Âu phải bàn đến việc nhanh chóng cải tổ, cơ cấu lại các vần đề kinh tế của khu vực này.

GDP quý I/2010 của khu vực Châu Âu chỉ đạt mức 0,2%, quý II tăng lên 1 % và quý III đã giảm xuống chỉ còn 0,4% trong khi tỷ lệ thất nghiệp đã vượt mức 2 con số còn tốc độ tăng CPI đã là 1,9% - tiến gần đến mức 2%, mức lạm phát cho phép của ECB. Các nền kinh tế đầu tàu trong khu vực châu Âu đóng vai trò quan trọng cho tăng trưởng của khu vực này.

Vấn đề nợ công tại khu vực châu Âu đã có dấu hiệu ngay từ đầu năm 2010 và chỉ đến tháng 4/2010, nó mới thực sự trở thành một vấn đề lớn khi Hy Lạp, với mức nợ công lên tới 110% GDP, đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán khiến nền kinh tế nước này ngày càng chìm sâu vào khủng hoảng. Tiếp đến, một số nền kinh tế khác trong khu vực châu Âu có các khoản thâm hụt tài chính lớn như Bồ Đào Nha (85,1%), Bỉ (100,9%), Ailen (116,3%) và Tây Ban Nha (69,1%)1[1] cũng bị cảnh báo về vấn đề này. Vấn đề nợ công của Hy Lạp cuối cùng đã đạt được sự đồng thuận của các nền kinh tế trong khu vực trong kế hoạch giải cứu trị giá gần 1.000 tỷ USD để ngăn cuộc khủng hoảng nợ Hy Lạp lan khắp châu Âu và bảo vệ đồng Euro trước nguy cơ sụt giá. Đồng thời, bản thân các quốc gia này cũng phải cam kết chủ động thực hiện các chính sách giám sát, kiểm soát chặt chẽ khu vực ngân hàng và cắt giảm chi tiêu, kiểm soát hiệu quả hơn tình hình nợ của quốc gia. Vấn đề nợ công cũng khiến chính phủ các quốc gia châu Âu phải tăng cường các biện pháp thắt lưng buộc bụng như phát hành trái phiếu, tăng thuế, cắt giảm chi tiêu và trợ cấp xã hội...

Nỗi lo ngại về nợ công đã tạm thời lắng dịu sau gói giải cứu Hy Lạp đã quay trở lại vào tháng 11, khiến khu vực châu Âu lại một lần nữa phải điêu đứng trước vấn đề nợ công của Ireland. Tuy nhiên, khác với Hy Lạp, vấn đề của Ireland đã nhanh chóng được giải quyết với gói cứu trợ tài chính trị giá khoảng 85 tỷ euro. Mặc dù vậy thì nguy cơ khủng hoảng nợ công sẽ lây lan sang các nước khác trong khu vực châu Âu vẫn đang đe dọa khu vực này, đặc biệt là Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha

      Kinh tế châu Á

Điểm sáng nhất trong bức tranh kinh tế thế giới năm qua chính là châu Á, với đầu tàu là Trung Quốc. Tăng trưởng tại các nền kinh tế mới nổi ở châu Á đã đạt khoảng 9,5% trong nửa đầu năm nay, cao hơn hẳn con số 3,5% của các quốc gia phát triển. Trung Quốc đã cho thấy một tốc độ tăng trưởng đáng kinh ngạc, 11,9% trong quý I và 10,3% trong quý II và đã thay thế Nhật Bản, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai trên thế giới và trong quý III là 9,6%. Kết quả trên đã phản ánh được hiệu quả của gói trợ cấp của Chính phủ trong năm 2009.

Tuy nhiên, mặt trái của các gói chính sách kích thích kinh tế là vấn đề lạm phát khi tăng trưởng quá nóng, đặc biệt là vào những tháng cuối năm lạm phát Trung Quốc tăng rất cao. Tỷ lệ lạm phát ở nước này trong tháng 11 tăng 5,1% - mức cao nhất kể từ khi cuộc khủng hoảng toàn cầu bùng nổ vào tháng 9/2008. Chính phủ Trung Quốc đã phải thực hiện các biện pháp thắt chặt tiền tệ trong đó có kiểm soát chặt chẽ tăng trưởng tín dụng, đặc biệt là tín dụng bất động sản; tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc 6 lần trong năm và tăng lãi suất cơ bản 2 lần chỉ trong 3 tháng cuối năm. Các động thái thắt chặt chính sách tiền tệ của Trung Quốc hoàn toàn trái ngược với đối tác thương mại lớn nhất của quốc gia này, là Mỹ.

Trái ngược với sự phục hồi khả quan tại các nước Đông Á, kinh tế Nhật Bản năm qua phải đối phó với tình trạng giảm phát và nỗ lực duy trì đà phục hồi của nền kinh tế. Cùng lúc đó, tình trạng tăng giá nhanh và kéo dài của đồng Yên Nhật đã đe dọa tới thúc đẩy tăng trưởng thông qua hoạt động xuất khẩu của Nhật Bản. Điều này đã khiến chính phủ Nhật lần đầu tiên trong 6 năm qua đã can thiệp thị trường tiền tệ thông qua kế hoạch 920 tỷ Yên tương đương 11 tỷ USD vào tháng 9/2010.

Áp lực lạm phát khiến nhiều nước chuyển sang xu hướng thắt chặt chính sách tiền tệ

Các chính sách kích thích kinh tế phục hồi sau khủng hoảng thường kéo theo hậu quả là lạm phát. Thêm vào đó, việc các dòng vốn nóng có xu hướng chảy mạnh vào thị trường các nước mới nổi- nơi đang có sự phục hồi kinh tế tốt nhất càng khiến áp lực lạm phát tại các nước này gia tăng.

Điều này khiến Chính phủ nhiều nước đã thực hiện các động thái thắt chặt chính sách tiền tệ thông qua điều chỉnh lãi suất tại các NHTW như Canada , Úc, Hàn Quốc hay Trung Quốc nhằm đảm bảo tăng trưởng kinh tế ổn định sau khủng hoảng.

Thị trường tài chính tiền tệ biến động phức tạp

      Thị trường tiền tệ thế giới sự bấp bênh của các đồng tiền chủ chốt; Rủi ro về sự bất ổn của tỷ giá ngày càng gia tăng làm dấy lên mối lo ngại về nguy cơ xảy ra “cuộc chiến tiền tệ” vào những tháng cuối năm.

Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và suy thoái đã làm cho đồng đô la Mỹ, đồng tiền chung châu Âu và bảng Anh chao đảo và không ổn định khiến lòng tin của giới đầu tư và người tiêu dùng vào các đồng tiền này bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Ấn tượng đầu tiên là sự giảm giá mạnh của đồng Euro và đồng bảng Anh so với đồng đô la Mỹ. Xuất phát từ những quan ngại về tình hình nợ công tại Hy Lạp, trong nửa đầu năm 2010, đồng bảng Anh đã giảm giá tới 7,53% so với đồng USD và đồng Euro đã mất giá 17,26% so với đồng USD. Tuy nhiên chuỗi ngày giảm điểm này đã chấm dứt vào đầu Quý III/2010, khi IMF và EU đã cùng chung tay cứu trợ Hy Lạp. Vì vậy mà trong quý III/2010, bảng Anh đã tăng giá 5,52% so với đô la Mỹ còn Euro tăng 9,67%.

Bước sáng tháng đầu tiên của quý IV, Ireland một quốc gia khác của khu vực EU là lại gióng lên hồi chuông cảnh báo về một “Hy Lạp thứ 2” và điều này ngay lập tức khiến đồng tiền chung châu Âu trượt giá. Tuy nhiên thì thời gian để giải quyết nợ nần của Ireland đã được rút ngắn rất nhiều so với Hy Lạp vì thế đà sụt giảm giá trị lần này của đồng tiền chung châu Âu đã không tụt sâu như những tháng đầu năm. Trong tháng 11, mức thấp nhất của Euro so với đô la Mỹ là 0,769 trong khi mức thấp nhất của năm nay là 0,816 Euro/ 1 USD. Tính đến ngày 30/12/2010, đồng Euro đã giảm giá 8,35% còn đồng bảng Anh đã giảm 4,56% so với đô la Mỹ.

Bên cạnh sự trượt dốc của đồng tiền chung Châu Âu, thì đồng bạc xanh của Mỹ cũng không có gì sáng sủa hơn. Trong năm, triển vọng tăng trưởng kinh tế của Mỹ còn nhiều điều chưa chắc chắn cùng với nhu cầu tăng thêm các gói kích thích kinh tế mà cụ thể ở đây là việc đưa ra thị trường chính sách nới lỏng định lượng lần 2 vào tháng 11/2010 đã tác động làm suy yếu mạnh giá trị của đồng USD so với phần lớn các đồng tiền trong khu vực Châu Á, đặc biệt là so với đồng Yên Nhật và đồng đô la Úc. Trong năm 2010, Yên Nhật đã tăng giá 12,23% so với USD còn đồng đô la Úc đã tăng 10,79%.

Đồng Yên Nhật đã liên tục tăng giá so với đô la Mỹ từ tháng 4/2010 và có lúc tăng lên mức cao nhất so với đồng đô la Mỹ trong vòng 15 năm. Điều này là một hiện tượng lạ vì kinh tế Nhật Bản đang phải đối phó với tình trạng giảm phát và nỗ lực duy trì đà phục hồi của nền kinh tế. Lo ngại rằng Yên Nhật tăng giá mạnh sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực tới sự ổn định của nền kinh tế và tài chính, làm phương hại nghiêm trọng đến thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu của Nhật Bản, Chính phủ Nhật lần đầu tiên kể từ năm 2004 đến nay đã phải can thiệp vào thị trường ngoại hối thông qua các gói chính sách để kích thích tiêu dùng và tạo việc làm.

Kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng định lượng lần 2 của Mỹ kể từ khi thông báo đến khi thực hiện đã làm dấy lên những lo ngại trên thị trường tài chính toàn cầu; đặc biệt là về khả năng dòng vốn nóng sẽ đổ vào thị trường các nước mới nổi, đe dọa sự ổn định tỷ giá tại các nước này. Chẳng hạn như đồng Won của Hàn Quốc đã tăng 9,4% so với USD chỉ từ tháng 7 đến tháng 10. Để giảm nhiệt cho sức ép này, để tránh những mất mát trong cạnh tranh thương mại và bong bóng bất động sản, các nước đang phát triển đã phải can thiệp vào thị trường ngoại tệ hoặc áp dụng các biện pháp kiểm soát vốn chặt chẽ. Nhật Bản và Ấn Độ ghìm tỷ giá nội tệ bằng cách mua vào ngoại tệ còn Brazil và Thái Lan áp dụng thuế đối với các dòng vốn ngoại đổ vào nền kinh tế.

Và ngay cả Trung Quốc, một quốc gia liên tục nhận được những áp lực về mặt chính trị, đặc biệt đối với Mỹ trong việc đánh giá lại đồng Nhân dân tệ, song kể từ đầu năm đến nay, dường như áp lực này vẫn chưa tạo ra được những điều chỉnh thiết yếu từ phía Trung Quốc trước những quan ngại về các tác động bên ngoài và những vấn đề nội tại của nền kinh tế. Trong năm 2010, đồng NDT đã nhiều lần được điều chỉnh tăng giá so với đô la Mỹ từ cuối tháng 6/2010. Hiện tỷ giá NDT đã đạt mức 6,63 NDT/1 USD, mức cao nhất kể từ cuối năm 1993 tới nay nhưng nhìn chung mức tăng giá chỉ là rất khiêm tốn. Từ đầu năm đến nay, NDT đã được điều chỉnh tăng giá khoảng 3,32% so với USD.

Những diễn biến của các đồng tiền trên thế giới nêu trên đã khiến giới phân tích lo ngại về nguy cơ xảy ra “chiến tranh tiền tệ” và đây cũng chính là tâm điểm của cuộc họp Hội nghị Thượng đỉnh G20 diễn ra vào đầu tháng 11 tại Seoul, Hàn Quốc và Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC). Tuy nhiên, các hội nghị trên đã kết thúc mà không đem lại được kết quả như mong đợi. Dường như các quốc gia trong năm nay đều thiên về hướng đưa ra các quyết sách cho nền kinh tế nội địa của mình mà không chú trọng tới các quyết sách chung về thương mại toàn cầu.

      Thị trường chứng khoán thế giới cố gắng vượt lên khó khăn

Cũng tương tự như thị trường tiền tệ thế giới, trong năm qua, quá trình phục hồi kinh tế toàn cầu, diễn biến kinh tế của các quốc gia đầu tàu, động thái điều hành CSTT của NHTW các nước, những chuyển biến trong vấn đề giải quyết nợ công ở châu Âu là những nhân tố chính dẫn dắt sự vận động của TTCK thế giới, khiến cho diễn biến trên TTCK thế giới diễn ra không được “trơn tru” theo một xu thế nào, mặc dù tính chung các chỉ số chứng khoán chính vẫn tăng điểm. Thị trường cũng có lúc thăng hoa qua ba đợt lập đỉnh trong năm (trong tháng 4, tháng 11 và tháng 12). Tuy nhiên, nếu so sánh với thời điểm trước khi xảy ra khủng hoảng thì nỗ lực vượt qua khó khăn của hầu hết các TTCK vẫn chưa trở về trạng thái của đầu năm 2008.

Chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm, trên các sàn giao dịch chứng khoán quốc tế, giá cổ phiếu và các chỉ số thị trường đã phải gánh chịu hai đợt suy giảm mạnh mẽ mà nguyên nhân chính xuất phát từ cuộc khủng hoảng nợ công bắt nguồn từ Hy Lạp. Xét về mức độ, cả hai đợt suy giảm này đều được đánh giá là rất nặng nề kể từ tháng 2/2009 và phản ứng của thị trường có phần thái quá. Trong đó, đợt suy giảm thứ 2 diễn ra nghiêm trọng hơn do những biến động xấu đi nhanh chóng của cuộc khủng hoảng ở Hy Lạp có nguy cơ lan rộng ra các nước châu Âu khác, lo ngại về thâm hụt ngân sách ở các quốc gia lớn, động thái sẵn sàng thắt chặt CSTT ở nhiều quốc gia, đạo luật cải cách tài chính ở Mỹ, xu hướng lãi suất cho vay tăng cao trên thế giới…

Khi những yếu tố trên được xoa dịu: chuyển biến tích cực trong vấn đề giải quyết nợ công ở châu Âu, những thông tin kinh tế tích cực Trung Quốc và các nước Đông Á (trừ Nhật Bản), quyết định can thiệp thị trường ngoại hối của NHTW Nhật Bản (BOJ) trong tháng 9 và kỳ vọng vào gói chính sách nới lỏng định lượng lần 2 của Mỹ, TTCK thế giới đã phục hồi và có 4 tháng tăng điểm liên tiếp trước khi lại quay đầu giảm nhẹ trong tháng 11 (ngoại trừ thời gian đầu tháng) khi bối cảnh kinh tế thế giới cho thấy vẫn còn nhiều quan ngại. Thời điểm trước và sau khi nghỉ lễ giáng sinh, thị trường đã trở lại với sắc xanh như là một tín hiệu của kỳ vọng tăng trưởng cho năm 2011. Kết thúc năm (29/12/2010), các chỉ số chứng khoán đều chốt với điểm số cao so với phiên cuối năm 2009, DowJones tăng 11% (1147.49 điểm) lên 11575.54, S&P500 tăng 13% (143.41 điểm) lên 1115.10, Nasdaq tăng 17% (393.73 điểm) lên 2662.88, FTSE100 tăng 9% (508.6 điểm) lên 6008.9, Hangseng tăng nhẹ 3% (749.23 điểm) lên 22621.73 và ngược lại Nikkei 225 lại giảm nhẹ 2% (253.81 điểm) còn 10292.63 điểm.

 Năm 2010 – một năm hoàng kim của vàng

Nhu cầu vàng trên thế giới gia tăng kể từ tháng 9/2008, khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu leo thang và tấn công mạnh vào các thị trường làm cho niềm tin của giới đầu tư vào tiền giấy suy giảm mạnh. Và năm 2010 quả thực là một năm hoàng kim của “vàng” – kim loại này đã duy trì được một thập niên liên tục tăng giá. Sự phục hồi kinh tế toàn cầu còn gặp nhiều khó khăn; những lo ngại về vấn đề khủng hoảng nợ công ở châu Âu; sự suy yếu của đồng đôla; những căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên; áp lực lạm phát gia tăng trên thế giới; xu hướng thực hiện thắt chặt CSTT của nhiều NHTW; xu hướng tăng dự trữ vàng của các NHTW để thay thế cho các loại ngoại tệ và tài sản tài chính khác; những biến động trên thị trường ngoại hối, diễn biến của thị trường chứng khoán chưa ổn định, cũng như nhu cầu vàng vật chất rất lớn ở khu vực các nước Châu Á…. đã tạo lực kéo cho giá vàng đi lên. Trong năm, giá vàng thế giới đã liên tiếp lập nhiều kỷ lục mới với các mốc 1240$/oz (12/05); 1250$/oz (08/06);1263$/oz (21/06); 1293.5$/oz (22/09) và 1421$/oz (9/11) và sau đó đã quay trở lại trên ngưỡng 1400$/oz trong tháng 12/2010. Giá vàng năm 2010 trung bình ở mức 1222.95$/oz tăng thêm 250.6$/oz (25,77%) so với mức trung bình 972.35$/oz của năm 2009. Tính đến ngày 29/12, giá vàng thế giới hiện ở mức 1403.5 $/oz, tăng 29,06% so với phiên cuối cùng năm 2009, và vượt lên 191$/oz so với mức đỉnh 1212.5$/oz của năm 2009.

Mặc dù giá vàng cũng đã có những đợt điều chỉnh giảm tạm thời như trong tháng 1 hay tháng 7 nhưng đây chỉ là sự giảm giá ngắn hạn; không ngăn được xu thế đi lên của giá vàng cũng như vai trò “vịnh tránh bão” của kim loại quý này. Tính chất ổn định của vàng trong giai đoạn hiện nay không chỉ được giới đầu tư mà ngay cả NHTW các nước cũng rất ưa chuộng, chính điều này đã tạo bệ phóng cho sự bứt phá của giá vàng. Tuy nhiên, sự tăng giá mạnh mẽ của vàng cũng là chủ đề cho những nhận định khác nhau về giá trị thực của vàng cũng như làm dấy lên những tranh luận xung quanh việc có nên quay trở lại thời kỳ lấy bản vị vàng? Có nhiều quan điểm cho rằng giá vàng đang bị thổi phồng, bị thao túng bởi Chính phủ một số quốc gia hoặc bởi một số nhà đầu tư lớn; song phổ biến hơn vẫn là quan điểm ủng hộ cho rằng giá vàng sẽ tiếp tục tăng cao hơn khi các nhà đầu tư vẫn chưa thay đổi chiến lược đầu tư, thị trường vàng sẽ tiếp tục thu hút một lượng lớn các nhà đầu tư trung và dài hạn bởi diễn biến của các thị trường tài chính và hàng hóa khác, diễn biến của kinh tế toàn cầu vẫn còn nhiều áp lực. Theo đó, nhiều chuyên gia phân tích đưa ra con số dự báo 1313$/oz cho mức giá trung bình của vàng trong năm 2011 và có thể lên đến 1500$/oz vào cuối năm 2011.

Tóm lại, năm 2010 đã qua đi song những vấn đề của kinh tế toàn cầu vẫn chưa được ngã ngũ cũng như hiệu quả của các chính sách kinh tế vẫn chưa rõ ràng sẽ là cơ sở cho những nhận định bi quan về thị trường tài chính thế giới trong năm 2011 – với việc phải đối mặt với những rủi ro lớn hơn là khó tránh khỏi. Những căng thẳng gần đây trong tiền tệ và giao thương, biến động tỷ giá cũng như các chính sách tự vệ của các nước đang phát triển có thể cho thấy trước được những rủi ro có thể xảy ra trong thời gian tới, tuy nhiên khi nào và mức độ tác động của các rủi ro này đến sự tăng trưởng của kinh tế toàn cầu cũng như sự ổn định của thị trường tài chính thế giới như thế nào cũng khó có thể lường trước được nếu như trong năm 2011, các nền kinh tế lớn của châu Âu, Nhật Bản và Mỹ, Trung Quốc vẫn còn tiếp tục theo đuổi những chính sách tiền tệ riêng rẽ mà chưa có sự phối hợp, liên kết.

Trang Dung – Việt Anh

2[1] Tính đến tháng 6/2010 (Nguồn: Fitch Rate)

1
2
  • aA
  • Categories:
  • Fintech - Nghiên cứu trao đổi
  • Chuyên đề khác
OTHER NEWS
Hồng Kông và Kế hoạch phát triển Fintech đến năm 2030
9/4/27
ADB: Việt Nam tiếp tục là điểm sáng tăng trưởng trong khu vực
10/4/26
Triển vọng chính sách tiền tệ toàn cầu sau thoả thuận ngừng bắn Mỹ - Iran
10/4/26
Xung đột Trung Đông và tác động đến chính sách tiền tệ toàn cầu
4/3/26
Nghị quyết 79-NQ/TW: Cơ hội cho VAMC chuyển mình từ một đơn vị "mua nợ để giữ" sang một thực thể xử lý nợ thực chất và dẫn dắt thị trường
2/3/26
Xu hướng lạm phát toàn cầu và tác động chính sách
10/2/26
Tín dụng ngân hàng khẳng định vai trò “trụ đỡ” của nền nông nghiệp
2/2/26
Fed giữ nguyên lãi suất: duy trì quan điểm thận trọng
5/1/28
Triển vọng kinh tế thế giới năm 2026 và hàm ý đối với điều hành chính sách tiền tệ
10/1/27
Thanh toán trong kỷ nguyên số: Yêu cầu tái định vị vai trò của ngân hàng
7/1/27
Showing 1 to 10 of 2048
  • 1
  • 2
  • 3
  • 205
About SBV
  • History
  • Major Responsibilities
  • Management Board
  • Former Governors
CPI
Reserve requirement
Interest Rate
Money Market Operations
  • Notification of New Offering off the State Bank Bills
  • Invitation for Gold Auctions
  • Nghiệp vụ thị trường mở
  • Đấu thầu Tín phiếu kho bạc nhà nước
System of Credit Institutions
  • Banks
    • Commercial Banks
      • State-owned Commercial Banks
      • Joibt-stock Commercial Banks
      • Wholly Foreign Owned Banks
      • Joint-venture Banks
    • Policy Banks
    • Cooperative Banks
  • Non-Banks Credit Institution
    • Finance Companies
    • Leasing Companies
    • Other non-bank credit Institutions
  • Micro finance Institutions
  • People's Credit Fund
  • Foreign Bank Branches
  • Representative Offices
Search Bar
TIN VIDEO
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
Hành trình 75 năm Ngành Ngân hàng - vì một Việt Nam hòa bình, giàu mạnh, phồn vinh, hạnh phúc
TIN ẢNH
Album
Album
TIN ẢNH
Album
Album
Calendar Icon LỊCH LÀM VIỆC CỦA BAN LÃNH ĐẠO Microphone Icon CÁC BÀI PHÁT BIỂU Chart Icon CPI Percentage Icon LÃI SUẤT Money Icon DỰ TRỮ BẮT BUỘC Graduation Icon GIÁO DỤC TÀI CHÍNH Newspaper Icon THÔNG CÁO BÁO CHÍ ẤN PHẨM PHÁT HÀNH
Ngân hàng
ĐẠI HỘI ĐẢNG CÁC CẤP NHIỆM KỲ 2025-2030 Chuyển đổi số
Danh Bạ Liên Hệ Phản Ánh Kiến Nghị Đường Dây Nóng
© state bank of vietnam portal
Address: 49 Ly Thai To - Hoan Kiem - Hanoi
Webmaster: (84 - 243) 266.9435
Email: thuongtrucweb@sbv.gov.vn rss
NCSC Certification
State Bank hotline: (84 - 243) 936.6306
Information security: phone number: (+84)84.859.5983, email: antt@sbv.gov.vn
IPv6 Ready