Ngân hàng Thế giới (WB) tại Báo cáo Triển vọng kinh tế toàn cầu tháng 1/2022 dự báo tốc độ tăng trưởng toàn cầu đạt mức 4,1% trong năm nay và 3,2% vào năm 2023 – thấp hơn đáng kể so với tăng trưởng 5,5% năm 2021. Trong khi đó, lạm phát ngắn hạn được cho là tiếp tục tăng cao hơn dự báo trước đó do dịch bùng phát giá lương thực và năng lượng cao và tác động tiêu cực của gián đoạn nguồn cung kéo dài. Báo cáo của WB cũng dự báo tăng trưởng của Việt Nam sẽ tăng nhanh lên 5,5% trong năm nay từ mức 2,6% năm 2021 và đạt 6,5% vào 2023.
Tăng trưởng toàn cầu ước tính đã tăng lên 5,5 % trong năm 2021 — là tốc độ phục hồi mạnh nhất sau các cuộc suy thoái trong vòng 80 năm, khi sự nới lỏng các lệnh phong tỏa sau đại dịch ở nhiều quốc gia đã giúp thúc đẩy mạnh mẽ sức cầu. Bất chấp sự tăng trưởng này, sự bùng phát đại dịch COVID-19 và tắc nghẽn nguồn vẫn cung đè nặng hoạt động toàn cầu trong nửa sau của năm ngoái. Hơn nữa, các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển (các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triểns) đang có sự phục hồi yếu và mong manh hơn so với các nền kinh tế phát triển (các nền kinh tế phát triển) như một kết quả của quá trình tiêm chủng chậm hơn, các phản ứng chính sách hạn chế hơn cùng các hậu quả dai dẳng của đại dịch. Những hậu quả lâu dài của đại dịch sẽ tác động nặng nề đến nguồn lực vật chất và nhân lực của các các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển; trong số các quốc gia bị ảnh hưởng mạnh nhất, đại dịch sẽ kéo lùi thu nhập đạt được trong vài năm.
Tỷ lệ nhiễm COVID-19 trên toàn cầu đã tăng vọt, được thúc đẩy bởi sự lan truyền nhanh chóng của biến thể Omicron. Đa số các quốc gia các nền kinh tế phát triển và ngày càng nhiều các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển đã tiêm chủng đầy đủ cho hầu hết người dân. Mặc dù tỷ lệ bao phủ vắc xin được mở rộng, một số quốc gia gần đây đã bị buộc phải tái áp dụng các biện pháp phong tỏa chặt chẽ để giảm bớt áp lực lên hệ thống y tế. Tỷ lệ bao phủ vắc xin vẫn không đồng đều trên thế giới và bị hạn chế một cách rõ ràng ở các quốc gia có thu nhập thấp (LIC). Với tỷ lệ tiêm phòng như gần đây, ước tính đến cuối năm 2023, chỉ khoảng 1/3 dân số LIC được tiêm một liều vắc-xin.
Dữ liệu gần đây cho thấy kinh tế toàn cầu tăng trưởng ổn định nhưng sự phát triển ở mức trung bình. Sự gia tăng các ca lây nhiễm năm 2021 liên quan đến biến thể Delta đã làm giảm nhu cầu của người tiêu dùng, nhưng ở một mức độ hạn chế hơn nhiều so với các làn sóng trước đây. Các nút thắt nguồn cung đã đè nặng lên sản xuất và thương mại toàn cầu. Tại các các nền kinh tế phát triển, tỷ lệ tiêm chủng cao và hỗ trợ tài khóa lớn đã giúp giải quyết một số bất lợi tác động kinh tế của đại dịch. Tuy nhiên, tại các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triểns, tốc độ phục hồi tiếp tục bị suy yếu bởi giảm các hỗ trợ chính sách và các điều kiện tài chính bị thắt chặt.
Giá năng lượng toàn cầu tăng trong nửa sau của năm 2021, đặc biệt đối với khí đốt tự nhiên và than đá đã do nhu cầu phục hồi và nguồn cung hạn chế. Trong khi đó, giá hàng hóa phi năng lượng ổn định, một số đạt mức giá bằng hoặc gần mức cao kỷ lục. Sau khi tăng nhanh vào đầu năm ngoái, thương mại toàn cầu đã ổn định, do cầu phát triển hài hòa hơn đối với hàng hóa thương mại và tình trạng nghẽn nguồn cung do đại dịch. Phản ánh những điểm nghẽn này, cũng như sự phục hồi của nhu cầu thế giới và tăng giá lương thực và năng lượng, lạm phát giá tiêu dùng toàn cầu và kỳ vọng ngắn hạn đã tăng lên nhiều hơn so với dự đoán trước đây. Các thị trường lao động tại các nền kinh tế phát triển đã bị thắt chặt, tạo điều kiện cho sự phục hồi của lạm phát tiền lương, trái ngược với sự phục hồi không đồng đều của thị trường này tại các các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển. Mặc dù điều kiện tài chính tiếp tục thích ứng ở cấp độ toàn cầu, chúng đã được thắt chặt đối với các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển do tâm lý rủi ro đã trở nên xấu đi.
Trong bối cảnh đó, WB dự báo nền kinh tế toàn cầu được dự báo sẽ giảm tốc độ tăng trưởng từ mức 5,5% năm 2021 xuống còn 4,1% vào năm 2022 do tiếp diễn các đợt bùng phát COVID-19, hỗ trợ chính sách giảm và gián đoạn nguồn cung kéo dài. Tăng trưởng dự kiến sẽ chậm hơn nữa vào năm 2023, ở mức 3,2%, do nhu cầu bị dồn nén cạn kiệt và các chính sách kinh tế vĩ mô hỗ trợ tiếp tục bị rút lại.
Tăng trưởng tại các nền kinh tế phát triển cũng được dự báo giảm tốc từ 5% năm 2021 xuống 3,8% vào năm 2022 và thấp hơn ở mức 2,3% vào năm 2023. Ngược lại, hầu hết các các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển dự kiến sẽ bị tác động dai dẳng hơn từ đại dịch, với quỹ đạo tăng trưởng không đủ mạnh để thúc đẩy đầu tư hoặc sản lượng đầu ra quay trở lại các xu hướng trước đại dịch trong giai đoạn 2022 – 2023. Tăng trưởng các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển dự kiến sẽ chậm lại từ 6,3 % vào năm 2021 xuống mức 4,6 % vào năm 2022, khi các hỗ trợ kinh tế vĩ mô bị rút lại, cùng với sự bùng phát COVID-19 do biến thể Omicron lan rộng và những trở ngại về tiêm chủng tiếp diễn, đè nặng lên sự phục hồi của nhu cầu trong nước. Tăng trưởng ở Trung Quốc dự kiến sẽ chỉ đạt 5,1% trong năm 2022, phản ánh tác động kéo dài của đại dịch và tăng cường các quy định thắt chặt. Tăng trưởng của nhóm các nước thu nhập thấp được dự đoán sẽ ổn định ở mức 4,9 % năm 2022 — thấp hơn mức trung bình lịch sử, do lạm phát cao cùng hạn chế dư địa chính sách làm cản trở phục hồi.
Vào năm 2023, tăng trưởng các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển được dự báo sẽ tiếp tục ở mức 4,4 % — thấp hơn mức trung bình 5,1% của thập kỷ qua — khi nhu cầu nội địa ổn định và giá cả hàng hóa ở mức vừa phải. Mặc dù sự phục hồi tiếp diễn, đại dịch dự kiến sẽ làm giảm sản lượng của các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triểns trong một thời gian dài, một phần do tác động bất lợi của nó đến việc tích lũy vật chất và nguồn nhân lực. Tổng sản lượng năm 2023 của các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triểns dự kiến sẽ thấp hơn khoảng 4% so với xu hướng trước đại dịch.
Các dự báo triển vọng này cũng ngụ ý tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người trong các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển sẽ giảm tốc từ khoảng 5,1% năm 2021 còn 3,4% trong năm nay và 3,3% vào năm 2023. Dự kiến, thu nhập đầu người năm 2023 tại gần 40% các các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển sẽ vẫn ở dưới mức của năm 2019.
Triển vọng kinh tế toàn cầu đối mặt với có nhiều rủi ro khác nhau. Trong đó, vấn đề nghiêm trọng là COVID-19 tiếp tục lây lan trong bối cảnh phân phối vắc xin không đồng đều giữa các quốc gia, làm dấy lên những lo ngại về sự xuất hiện các biến chủng mới, như biến thể Omicron được phát hiện vào tháng 11/2021. Mặc dù Omicron có thể ít gây tác động nghiêm trọng hơn, khả năng lây lan nhanh chóng của nó trong nhóm dân số được tiêm chủng có thể đề nặng lên hệ thống y tế đang kiệt quệ và buộc các chính phủ thắt chặt các biện pháp kiểm soát, làm chậm lại đáng kể tăng trưởng trong ngắn hạn.
Hơn nữa, nguồn cung tiếp tục căng thẳng có thể dẫn đến những gián đoạn đối với thương mại quốc tế và góp phần gây ra lạm phát bất ngờ hơn nữa, tăng rủi ro khiến kỳ vọng lạm phát không được neo tốt. Trong khi đó, gia tăng nợ tại khu vực công và tư nhân ở mức chưa từng có đã khiến nhiều các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển trở nên dễ bị tổn thương bởi căng thẳng tài chính. Các thảm họa liên quan đến khí hậu cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến các hoạt động. Trong khi các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển có ít dư địa chính sách để cung cấp hỗ trợ thêm nếu cần, những rủi ro này làm tăng xu hướng chậm lại của nền kinh tế so với hình dung hiện tại.
Nỗ lực phối hợp nhằm làm sâu sắc hơn sự hợp tác chính sách quốc tế là cần thiết để giải quyết những thách thức toàn cầu, bao gồm cả tỷ lệ tiêm chủng thấp tại các LIC, gánh nặng nợ không bền vững ở nhiều các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triểns và tình trạng biến đổi khí hậu toàn cầu. Sự hợp tác này có thể đưa đến việc các quốc gia giàu có hơn mở rộng cho tặng vắc xin cho các nước nghèo hơn để khắc phục bất bình đẳng tiêm chủng; giúp giảm gánh nặng nợ nần trong các các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển có dư địa tài khóa hạn hẹp, đồng thời thúc đẩy quá trình chuyển đổi năng lượng xanh của họ. Trong khi đó, việc kết thúc đại dịch sẽ đòi hỏi tiếp tục điều chỉnh các chính sách về y tế và kinh tế.
Các nhà hoạch định chính sách tại các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển không có khả năng cung cấp cùng một mức độ hỗ trợ như các đối tác tại các nền kinh tế phát triển do dư địa chính sách của họ hạn hẹp hơn. Trên thực tế, ngày càng có nhiều nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển đã thắt chặt chính sách tiền tệ trong những tháng gần đây để giúp kiềm chế áp lực lạm phát và đảm bảo kỳ vọng lạm phát vẫn được duy trì. Khi các ngân hàng trung ương của các nền kinh tế phát triển bắt đầu giảm nới lỏng chính sách tiền tệ, sự biến động của dòng vốn và sự mất giá tiền tệ có thể gây ra thêm những thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển.
Sau khi một số lượng đáng kể các hỗ trợ tài khóa liên quan đến đại dịch tại các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển hết hạn vào năm ngoái, phần lớn hỗ trợ còn lại dự kiến cũng sẽ kết thúc vào năm 2023. Tuy nhiên, nợ chính phủ được cho là sẽ tiếp tục tăng do nguồn thu giảm. Mặc dù dư địa tài chính vẫn bị hạn chế tại các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển, các bước có thể được thực hiện để cải thiện tính bền vững tài khóa và xây dựng lại bộ đệm chính sách. Các hành động cần ưu tiên là chi tiêu công, đặc biệt là thúc đẩy tăng trưởng các dự án đầu tư, có thể thúc đẩy sản lượng tiềm năng. Trong khi đó, các chính sách tăng cường hiệu quả chi tiêu và cải thiện huy động nguồn thu nội địa, bao gồm giới thiệu các công cụ thuế mới như thuế carbon, có thể giúp bổ sung vùng đệm tài chính.
Các nhà hoạch định chính sách tại các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển cũng tiếp tục phải đối mặt với các những thách thức chính sách dài hạn. Những thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế và con người nhấn mạnh tầm quan trọng của các hành động chính sách để ngăn chặn, chuẩn bị và ứng phó với các cuộc khủng hoảng trong tương lai như một phần của cách tiếp cận tổng thể để theo đuổi lộ trình phát triển xanh, bền vững và phát triển toàn diện. Các chính sách đẩy nhanh quá trình chuyển đổi sang các nguồn năng lượng tái tạo các-bon thấp cần thiết để giúp giảm phát thải khí nhà kính và kiềm chế chi phí gia tăng gắn với biến đổi khí hậu. Sự biến động gần đây về giá cả hàng hóa, cùng với thực tế là hàng hóa đại diện cho một nguồn thu chủ lực từ xuất khẩu của hầu hết các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển, từ đó nhấn mạnh tầm quan trọng của những cải cách để thúc đẩy khả năng phục hồi khi đối mặt với những cú sốc về giá hàng hóa.
Đại dịch cũng đã làm trầm trọng thêm tình trạng bất bình đẳng khi nó đã có nhưng tác động bất cân đối đến các nhóm dễ bị tổn thương, dẫn đến mất việc làm kéo dài cho nhiều người. Đặc biệt, phụ nữ đã bị mất việc làm và thu nhập nhiều hơn do sự đại diện quá mức của họ trong các lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề. Các nỗ lực chính sách kiên quyết để giảm bất bình đẳng thu nhập và bất bình đẳng giới cũng như bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương cần được ưu tiên, đặc biệt là trong các các nền kinh tế thị trường mới nổi và đang phát triển nơi có các khu vực phi chính thức lớn và mức độ nghèo đói gia tăng.
MHN (theo WB)