Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu biến động nhanh, biến đổi khí hậu gia tăng và thị trường nông sản ngày càng nhiều rủi ro, khu vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn tiếp tục được xác định là “trụ đỡ” quan trọng của nền kinh tế, giữ vai trò bảo đảm an ninh lương thực, ổn định vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Định hướng này tiếp tục được nhấn mạnh trong Kết luận số 219-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 với yêu cầu cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, phát triển xanh, tuần hoàn, phát thải thấp, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số; đồng thời khẳng định nông dân là trung tâm, là chủ thể và là động lực của quá trình phát triển.
Trước khi các chủ trương này được cụ thể hóa bằng Kết luận 219 và Nghị quyết 19, ngành Ngân hàng đã chủ động vào cuộc mạnh mẽ, triển khai đồng bộ cả về cơ chế, chính sách và nguồn lực tín dụng, ưu tiên vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn. Việc Đảng, Nhà nước tiếp tục khẳng định tầm quan trọng chiến lược của “tam nông” càng củng cố định hướng để ngành Ngân hàng phát huy vai trò đồng hành, dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển khu vực này một cách bền vững và hiệu quả hơn.
Thống đốc Nguyễn Thị Hồng trao đổi với ông Nguyễn Văn Nam - đại diện Hợp tác xã Dâu tây Xuân Quế (xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La) - một trong những mô hình nông nghiệp sạch hoạt động hiệu quả nhờ nguồn vốn tín dụng ngân hàng
Chia sẻ về chính sách hỗ trợ tín dụng cho lĩnh vực nông nghiệp thời gian qua, bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, cho biết, phát triển nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch là xu hướng tất yếu và là một trong những giải pháp trọng tâm góp phần đưa nền nông nghiệp Việt Nam hội nhập và phát triển bền vững. Thực hiện chủ trương, định hướng, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước, NHNN luôn xác định nông nghiệp là một trong những lĩnh vực ưu tiên đầu tư vốn và đã ban hành, triển khai nhiều chính sách, giải pháp để hướng dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực này. Theo đó, NHNN đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định riêng về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn (Nghị định 55/2015/NĐ-CP) được sửa đổi, bổ sung qua các Nghị định 116/2018/NĐ-CP và mới nhất là Nghị định 156/2025/NĐ-CP, đồng thời ban hành các thông tư hướng dẫn đồng bộ.
Các chính sách này tạo điều kiện thuận lợi cho cả tổ chức tín dụng và khách hàng tiếp cận vốn, với nhiều cơ chế ưu đãi như: cho vay không có tài sản bảo đảm từ 300 triệu đồng đến 5 tỷ đồng; các dự án ứng dụng công nghệ cao, liên kết chuỗi, nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn được vay tới 70–80% giá trị phương án; áp dụng cơ chế cơ cấu lại nợ, giữ nguyên nhóm nợ khi gặp rủi ro bất khả kháng; trần lãi suất cho vay ngắn hạn lĩnh vực ưu tiên hiện ở mức 4%/năm. Đối với tổ chức tín dụng có tỷ trọng cho vay nông nghiệp lớn được xem xét giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc, tiếp cận tái cấp vốn và áp dụng hệ số rủi ro tín dụng thấp hơn.
Song song với hoàn thiện thể chế, NHNN cũng triển khai nhiều chương trình tín dụng đặc thù với lãi suất ưu đãi, như chương trình cho vay nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch quy mô 100 nghìn tỷ đồng đã giải ngân vượt mục tiêu, hay chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản nhiều lần được nâng quy mô, hiện đạt 185 nghìn tỷ đồng với tỷ lệ giải ngân khoảng 96%. Các giải pháp hỗ trợ khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, bão lũ cũng được thực hiện kịp thời thông qua cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giảm lãi suất 0,5–2%/năm và cho vay mới ưu đãi để khôi phục sản xuất.
Nhờ triển khai đồng bộ các cơ chế, chính sách nêu trên, tín dụng nông nghiệp, nông thôn tiếp tục tăng trưởng tích cực, với hơn 90 tổ chức tín dụng và gần 1.100 quỹ tín dụng nhân dân tham gia. Đến cuối năm 2025, dư nợ lĩnh vực này đạt trên 4,2 triệu tỷ đồng, tăng 14,5% so với cuối năm 2024, chiếm gần 23% tổng dư nợ toàn nền kinh tế – tỷ trọng cao nhất trong các lĩnh vực ưu tiên; riêng tín dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch và liên kết chuỗi đạt gần 30.000 tỷ đồng.
Điểm tựa tài chính vững chắc cho người nông dân
Trong dòng chảy tín dụng đó, Agribank khẳng định vai trò chủ lực đầu tư cho khu vực “tam nông”, với tỷ trọng vốn dành cho nông nghiệp, nông thôn luôn chiếm mức cao trong tổng dư nợ. Theo Phó Tổng Giám đốc Agribank Phùng Thị Bình, đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng của Agribank đạt gần 2 triệu tỷ đồng, trong đó khoảng 64% tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, tương đương gần 1,3 triệu tỷ đồng, chiếm thị phần cao nhất toàn ngành ngân hàng. Riêng dư nợ cho vay tái cơ cấu ngành nông nghiệp, bao gồm sản xuất ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch và liên kết chuỗi, đạt 3.540 tỷ đồng, tăng gần gấp đôi so với năm trước; trong đó cho vay nông nghiệp công nghệ cao đạt khoảng 750 tỷ đồng.

Đoàn công tác ngành Ngân hàng thăm và khảo sát mô hình nông nghiệp sạch tại Hợp tác xã Dâu tây Xuân Quế (xã Mai Sơn, tỉnh Sơn La)
Xác định đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt, Phó Tổng Giám đốc Agribank Phùng Thị Bình cho biết, hàng năm ngân hàng ưu tiên nguồn lực triển khai đồng bộ nhiều chương trình tín dụng ưu đãi, từ sản xuất nông nghiệp truyền thống đến các mô hình hàng hóa, liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao. Năm 2025, ngân hàng tích cực thực hiện các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước như cho vay nhà ở xã hội, lâm sản, thủy sản, liên kết sản xuất và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp; đồng thời chủ động triển khai các gói tín dụng ưu đãi quy mô 685 nghìn tỷ đồng, với lãi suất thấp hơn tối đa 2%/năm so với thông thường.
Bên cạnh cung ứng vốn, Agribank đẩy mạnh cải cách thủ tục, linh hoạt phương thức cho vay, phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương và các tổ chức hội, hiệp hội ngành hàng để tư vấn, hướng dẫn khách hàng sử dụng vốn hiệu quả, tạo điều kiện thuận lợi mở rộng sản xuất, nâng cao giá trị nông sản và thu nhập. Quan trọng hơn, dòng vốn Agribank đã thực sự đi vào từng mô hình sản xuất, trở thành điểm tựa tài chính vững chắc để người nông dân mạnh dạn đầu tư, gia tăng giá trị và phát triển bền vững.
Tại xã Mai Sơn (Sơn La), ông Nguyễn Văn Nam - đại diện Hợp tác xã Dâu tây Xuân Quế cho biết, trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, Agribank cung ứng nguồn vốn cho vay, áp dụng các gói ưu đãi lãi suất kịp thời giúp chúng tôi mở rộng diện tích cây trồng, đảm bảo quy trình sản xuất hiệu quả. “Từ 6.000 m2 trồng dâu tây khi mới khởi đầu năm 2022, hiện nay chúng tôi đã mở rộng quy mô lên 6,7 ha, sản phẩm đạt tiêu chuẩn OCOP và có mặt tại nhiều siêu thị lớn. Trong sự thành công của chúng tôi có hỗ trợ rất lớn từ Agribank ngay từ những bước khởi đầu. Bên cạnh việc cấp tín dụng, cán bộ Agribank thường xuyên kiểm tra, bám sát hoạt động của Hợp tác xã, tư vấn quản lý dòng tiền, phương án sử dụng vốn hiệu quả, cung cấp các sản phẩm dịch vụ thanh toán, tiền gửi, bảo hiểm, ngân hàng số… giúp Hợp tác xã chúng tôi vận hành ổn định, minh bạch và mang lại nguồn thu lớn”, ông Nam bày tỏ.
Ngoài cho vay, ông Nam cho biết, Agribank còn tư vấn giúp chúng tôi sử dụng nguồn vốn hiệu quả, ổn định đời sống và phát triển sản xuất bền vững. Các dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt giúp hộ gia đình quản lý thu - chi thuận tiện, an toàn, từng bước tiếp cận tài chính hiện đại. Đặc biệt, trong những thời điểm thị trường biến động hoặc gặp khó khăn do thiên tai, dịch bệnh, Agribank phối hợp tìm giải pháp tháo gỡ như tiếp tục thực hiện giảm lãi suất, miễn phí dịch vụ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ… Qua đó, giúp Hợp tác xã có thêm thời gian phục hồi sản xuất, ổn định dòng tiền, không bị đứt gãy hoạt động. “Trong bối cảnh giá cả nông sản, vật tư đầu vào biến động, nguồn vốn ngân hàng Agribank với lãi suất phù hợp, thời hạn linh hoạt giúp bà con cân đối dòng tiền, tránh bán tháo nông sản hoặc vay nóng với chi phí cao. Việc ngân hàng kịp thời cơ cấu lại nợ, bà con cũng ổn định tâm lý, yên tâm khôi phục sản xuất”, ông Nam chia sẻ thêm.
Cần phối hợp đồng bộ chính sách để nông nghiệp phát triển bền vững
Từ thực tế triển khai tại Sơn La, có thể thấy rất rõ hiệu quả của dòng vốn tín dụng Agribank khi được đưa đến đúng đối tượng và đúng thời điểm, góp phần quan trọng giúp người dân, hợp tác xã và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, chuyển đổi phương thức sản xuất theo hướng hiện đại và bền vững. Theo chia sẻ của bà Phùng Thị Bình, đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng của Agribank tại tỉnh Sơn La đạt 18.510 tỷ đồng, trong đó dư nợ lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt 12.460 tỷ đồng, chiếm 67,3% tổng dư nợ. Phần lớn là dư nợ phục vụ trồng trọt và chăn nuôi nông nghiệp, đạt 7.926 tỷ đồng, chiếm khoảng 64% dư nợ nông nghiệp, nông thôn.
Ngoài ra, tại tỉnh Sơn La, Agribank đang triển khai chương trình tín dụng ưu đãi phục vụ nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch với lãi suất cho vay giảm từ 0,5% đến 1,5%/năm, đồng thời đẩy mạnh cho vay các dự án nông nghiệp bảo vệ môi trường do các tổ chức tài chính quốc tế tài trợ, như nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học và hỗ trợ nông nghiệp cacbon thấp.
Từ nguồn vốn tín dụng của Agribank, nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch đã hình thành và tạo nên các sản phẩm nông nghiệp chất lượng, có giá trị kinh tế cao, đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP, đảm bảo yêu cầu thị trường trong nước và xuất khẩu như xoài tròn, xoài da xanh Yên Châu (nay thuộc xã Yên Sơn), na Thái, ổi, bưởi Mộc Châu, thanh long Mai Sơn, các vườn cà phê tại xã Thuận Châu, các trang trại chăn nuôi lợn sạch tại xã Mường Chanh, xã Chiềng Hặc …
Từ kết quả tích cực trong hoạt động đầu tư phát triển “tam nông” tại địa bàn một tỉnh miền núi Tây Bắc của Tổ quốc, bà Phùng Thị Bình cho biết, thời gian tới, Agribank tiếp tục ưu tiên tín dụng cho các mô hình nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch, sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với chế biến và tiêu thụ sản phẩm trên địa bàn các tỉnh, thành trong đó có Sơn La; tăng cường phối hợp với chính quyền địa phương hỗ trợ các hợp tác xã và doanh nghiệp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn. “Thông qua đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động tín dụng, giảm chi phí cho người vay và nâng cao chất lượng phục vụ, Agribank cam kết đồng hành cùng tỉnh Sơn La phát triển nông nghiệp, nông thôn theo hướng xanh, hiện đại và bền vững, mang lại nhiều giá trị tốt đẹp cho người dân, doanh nghiệp và cộng đồng”, bà Bình khẳng định.
Ở góc độ quản lý nhà nước, bà Hà Thu Giang cho biết, thực hiện Kết luận số 219-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương về tiếp tục triển khai Nghị quyết 19-NQ/TW, ngành Ngân hàng xác định nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược lâu dài, là nền tảng bảo đảm ổn định vĩ mô và tăng trưởng bền vững; đồng thời đẩy mạnh cơ cấu lại ngành theo hướng xanh, hữu cơ, tuần hoàn, phát thải thấp, ứng dụng công nghệ cao và chuyển đổi số toàn diện.
Theo bà Giang, thời gian tới NHNN tiếp tục triển khai hiệu quả chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo các Nghị định 55/2015/NĐ-CP, 116/2018/NĐ-CP và 156/2025/NĐ-CP; chỉ đạo các tổ chức tín dụng chủ động cân đối nguồn vốn đáp ứng kịp thời nhu cầu vay vốn, đơn giản hóa thủ tục, tài sản bảo đảm, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận tín dụng; đồng thời đẩy mạnh chương trình kết nối Ngân hàng – Doanh nghiệp, kịp thời tháo gỡ khó khăn và cơ cấu lại nợ cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi thiên tai, dịch bệnh và biến động thị trường.
Đánh giá ngành nông nghiệp có tính đặc thù cao, chịu tác động lớn từ các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh, biến động thị trường, bên cạnh nỗ lực của ngành Ngân hàng, bà Giang cũng nhấn mạnh sự phối hợp của các bộ, ngành và địa phương có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả dòng vốn tín dụng phục vụ lĩnh vực nông nghiệp, trong đó có nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch, góp phần thúc đẩy tái cơ cấu và phát triển nông nghiệp bền vững. Cụ thể, về phía các bộ ngành cần có Quy hoạch, đánh giá, dự báo về nhu cầu thị trường đối với sản phẩm nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch làm cơ sở định hướng phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững, giảm rủi ro lệch pha cung - cầu; Đẩy mạnh liên kết sản xuất - chế biến - tiêu thụ, ứng dụng công nghệ cao, giảm phát thải, chuyển đổi số và xanh để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm; Tăng cường xúc tiến thương mại, đa dạng hóa thị trường xuất khẩu (tận dụng FTA, mở rộng thị trường mới), xây dựng thương hiệu và đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế;
Về phía các địa phương, tiếp tục cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tiếp cận vốn, công nghệ cho doanh nghiệp, hợp tác xã, nông dân; Chú trọng quy hoạch, khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế sản phẩm chủ lực của địa phương; Đẩy mạnh liên kết nội vùng và ngoại vùng; hình thành các khu, vùng, chuỗi sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hướng tới phát triển bền vững, tăng năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng và tham gia sâu chuỗi giá trị toàn cầu.
PV