Ngày 01/4/2024, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế các nước đang phát triển tại Đông Á - Thái Bình Dương (EAP) với nhận định, kinh tế EAP tăng cao hơn so với phần còn lại trên thế giới nhưng thấp hơn so với kết quả tăng trưởng trước đại dịch Covid-19.
Trong năm 2023, GDP tại Trung Quốc tăng 5,2%, GDP tại những quốc gia khác tăng 4,4%, lần lượt thấp hơn kết quả tăng 6,7% và 4,9% trong giai đoạn 2015-2019. Trong năm 2023, các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương ghi nhận mức tăng GDP 5,6%, cao hơn so với kết quả tăng trung bình 3,0% trong giai đoạn 2015-2019.
Năm 2024, GDP tại EAP được dự báo tăng 4,5%, nhưng vẫn thấp hơn kết quả tăng trung bình trước đại dịch, khi điều kiện toàn cầu tiếp tục cải thiện và áp lực lạm phát giảm dần. Trong năm 2024, GDP tại Trung Quốc được dự báo sẽ giảm tốc xuống mức tăng 4,5%, do các vấn đề ngắn hạn như nợ nần tăng cao và thị trường bất động sản chính còn gặp khó khăn. Tại những quốc gia khác trong khu vực, GDP năm 2024 được kỳ vọng cũng chỉ tăng 4,6%, do kinh tế toàn cầu năm 2023 tăng thấp và điều kiện tài chính khó khăn. Trong năm 2024, GDP tại các quốc đảo Thái Bình Dương sẽ giảm tốc xuống mức tăng 3,6%, do đà phục hồi sau đại dịch không còn phát huy tác dụng.
Tại EAP, tỷ lệ đói nghèo tiếp tục giảm, nhưng vẫn chậm hơn so với trước đại dịch. Trong năm 2023-2024, khoảng 9 triệu người tại EAP thoát nghèo, nếu tính theo chuẩn đói nghèo trung bình thấp. Nếu tính theo chuẩn đói nghèo trung bình cao, trên 34 triệu người đã thoát nghèo.
Về động lực tăng trưởng, hiệu quả kinh tế tại EAP được định hình bởi diễn biến kinh tế trong và ngoài nước. Các yếu tố cơ bản từ bên ngoài là thương mại toàn cầu phục hồi, mặc dù rào cản thương mại và chính sách bảo hộ tăng cao, điều kiện tài chính vẫn thắt chặt. Trong số các yếu tố trong nước, quan trọng nhất là nợ công và nợ tư nhân tăng cao, dư địa chính sách hạn chế, bất ổn chính trị và chính sách tăng cao. Đối với các nước EAP, thương mại toàn cầu phục hồi và điều kiện tài chính nới lỏng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy kinh tế EAP. Trong khi đó, nợ nần tăng cao, chính sách bảo hộ và bất định chính sách là những yếu tố có thể kìm hãm tăng trưởng kinh tế EAP.
Liên quan đến yếu tố bên ngoài, mặc dù GDP toàn cầu tăng chậm, nhưng trao đổi hàng hóa và dịch vụ phục hồi từ kết quả tăng 0,2% trong năm 2023 lên mức tăng khoảng 2,3% trong năm 2024. Đà phục hồi này được thúc đẩy bởi thu nhập thực tế tăng nhanh hơn so với lạm phát, và nhu cầu dịch chuyển trở lại sang hàng hóa dễ chuyển nhượng. Mặc dù lạm phát tại hầu hết các nền kinh tế chủ chốt đã hạ nhiệt, lạm phát lõi tại Mỹ và EU vẫn đứng ở mức cao và cao hơn so với trước đại dịch. Trong năm 2023, thế giới ghi nhận gần 3.000 rào cản thương mại mới được thiết lập, gấp ba lần so với năm 2019. Trong những năm gần đây, chính sách bảo hộ mậu dịch tăng cao, và các nước EAP cũng theo đuổi xu hướng này, cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế EAP.
Liên quan đến các yếu tố trong nước, trong thập kỷ qua, tỷ trọng nợ công so GDP tại hầu hết các nước EAP có xu hướng tăng dần, thu hẹp dư địa tài khóa, cản trở đầu tư công và kìm hãm đầu tư tư nhân do lãi suất tăng cao. Kể từ năm 2010 đến nay, tỷ trọng nợ doanh nghiệp so GDP tại Trung Quốc và Việt Nam đã tăng lên trên 40%, và hiện đã vượt tỷ trọng tại các nước phát triển. Tại Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan, nợ các hộ gia đình cũng tăng đáng kể, ảnh hưởng tiêu cực đến tiêu dùng và sức mua.
Do mặt bằng giá cả hàng hóa ở mức thấp, lạm phát tại EAP có xu hướng giảm, góp phần giảm bớt khó khăn về cung ứng. Tuy nhiên, lạm phát cao vẫn kéo dài tại các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương cũng như tại Mông Cổ, Lào và Myanmar. Trái lại, các nước Thái Lan, Trung Quốc và Campuchia đang đối mặt với mức lạm phát âm.
Về triển vọng tăng trưởng, GDP năm 2024 tại EAP được kỳ vọng tăng 4,5%. Trong khi các yếu tố trong nước đóng vai trò chủ đạo tại Trung Quốc, các yếu tố bên ngoài đóng vai trò chi phối đối với tăng trưởng kinh tế tại những quốc gia khác trong khu vực. Sau khi tăng 5,2% trong năm 2023, GDP tại Trung Quốc sẽ giảm tốc xuống mức tăng 4,5% trong năm 2024, do nợ nần tăng cao, khu vực bất động sản chưa thoát khỏi khó khăn, dân số già hóa và các vấn đề mang tính cơ cấu dài hạn. Tại những nước khác trong khu vực, khó khăn kinh tế toàn cầu trong năm 2023 đã cản trở tăng trưởng kinh tế, nên GDP năm 2024 có thể chỉ tăng 4,6%. Trong năm 2024, GDP tại các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương dự kiến tăng 3,6%, khi đà phục hồi sau đại dịch bị chững lại. Tuy nhiên, GDP năm 2024-2025 tại EAP vẫn cao hơn so với những khu vực khác trên thế giới.
Dự báo tăng trưởng GDP
|
Thực tế và ước tính |
Dự báo 01/2024 |
|||||
|
2015-19 |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
EAP (trừ Trung Quốc) |
6,4 |
1,3 |
7,5 |
3,4 |
5,1 |
4,5 |
4,3 |
Các quốc đảo TBD |
3,0 |
-10,2 |
-3,5 |
6,4 |
5,6 |
3,6 |
3,3 |
Trung Quốc |
6,7 |
2,2 |
8,4 |
3,0 |
5,2 |
4,5 |
4,3 |
Indonesia |
5,0 |
-2,1 |
3,7 |
5,3 |
5,0 |
4,9 |
5,0 |
Malaysia |
4,9 |
-5,5 |
3,3 |
8,7 |
3,7 |
4,3 |
4,4 |
Philippines |
6,6 |
-9,5 |
5,7 |
7,6 |
5,6 |
5,8 |
5,9 |
Thái Lan |
3,4 |
-6,1 |
1,6 |
2,5 |
1,9 |
2,8 |
3,0 |
Việt Nam |
7,1 |
2,9 |
2,6 |
8,1 |
5,0 |
5,5 |
6,0 |
Campuchia |
7,1 |
-3,1 |
3,0 |
5,2 |
5,4 |
5,8 |
6,1 |
Lào PDR |
6,6 |
0,5 |
2,5 |
2,7 |
3,7 |
4,0 |
4,1 |
Mông Cổ |
4,6 |
-4,4 |
1,6 |
5,0 |
7,1 |
4,8 |
6,6 |
Myanmar |
6,4 |
6,6 |
-9,0 |
-12,0 |
4,0 |
1,3 |
2,0 |
Papua New Guinea |
4,0 |
-3,2 |
0,1 |
4,3 |
2,7 |
4,8 |
3,6 |
Timor-Leste |
5,1 |
-8,3 |
2,9 |
4,0 |
2,1 |
3,6 |
4,5 |
Palau |
1,0 |
-9,1 |
-13,4 |
-2,0 |
0,8 |
12,4 |
11,9 |
Fiji |
3,1 |
-17,0 |
-4,9 |
20,0 |
8,0 |
3,5 |
3,3 |
Quần đảo Solomon |
3,0 |
-3,4 |
-0,6 |
-4,1 |
1,9 |
2,8 |
3,1 |
Tuvalu |
6,7 |
-4,3 |
1,8 |
0,7 |
3,9 |
3,5 |
2,4 |
Quần đảo Marshall |
4,8 |
-1,8 |
1,0 |
-4,5 |
3,0 |
3,0 |
2,0 |
Vanuatu |
3,5 |
-5,0 |
0,6 |
1,9 |
2,5 |
3,7 |
3,5 |
Kỉibati |
2,5 |
-0,6 |
8,5 |
3,9 |
4,2 |
5,6 |
2,0 |
Tonga |
2,4 |
0,5 |
-2,7 |
-2,0 |
2,6 |
2,5 |
2,2 |
Samoa |
3,4 |
-3,1 |
-7,1 |
-5,3 |
8,4 |
4,5 |
3,6 |
Micronesia |
1,9 |
-1,8 |
-3,2 |
-0,6 |
0,8 |
1,1 |
1,7 |
Nauru |
2,4 |
0,7 |
7,2 |
2,8 |
0,6 |
1,4 |
1,2 |
Nguồn: Tính toán và dự báo của WB
Cũng như phần còn lại trên thế giới, các nước EAP cũng đối mặt với một số rủi ro tăng trưởng thấp, bao gồm kinh tế toàn cầu tăng chậm và điều kiện tài chính thắt chặt hơn so với kỳ vọng. Tại Trung Quốc, nếu niềm tin của người tiêu dùng tiếp tục sụt giảm, chi tiêu sẽ giảm trở lại và ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng trong bối cảnh khó khăn vẫn bủa vây thị trường bất động sản.
Kinh tế nhiều nước EAP phụ thuộc vào nhu cầu bên ngoài về hàng xuất khẩu. Vì thế, nếu kinh tế toàn cầu tiếp tục giảm tốc, nhu cầu về hàng hóa xuất khẩu từ EAP sẽ sụt giảm.
Các nước EAP cũng dễ bị tổn thương trước những thay đổi về điều kiện tài chính bên ngoài. Trong đó, các nước nhỏ như Timor-Leste, Campuchia, Lào dễ bị tổn thương nhất do cần nguồn tài chính rất lớn để trang trải thâm hụt vãng lai và dịch vụ nợ hiện hành cũng như yêu cầu tái cấp vốn. Trong khi dịch vụ nợ dài hạn là nhu cầu tài chính chủ yếu đối với Mông Cổ và Lào, đảo nợ ngắn hạn là nhu cầu tài chính chủ yếu đối với Campuchia và Malaysia. Do sự phụ thuộc khá cao vào hàng hóa nhập khẩu, thâm hụt tài chính có xu hướng gia tăng tại các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương. Trong đó, lãi suất tại Mỹ tiếp tục tăng cao có thể gây khó khăn cho các chính phủ trong việc mở rộng vay vốn hay đảo nợ hiện hành.
Rủi ro địa chính trị leo thang cũng là vấn đề cần lưu ý, nhất là sau khi xung đột xảy ra tại Trung Đông. Trong khi đà tăng giá cả hàng hóa đang chững lại, căng thẳng tại Trung Đông có thể gây rối loạn thị trường dầu mỏ và nhiều hàng hóa khác. Ngoài ra phải kể đến những rủi ro bắt nguồn từ tác động bất thường của biến đổi khí hậu, nhất là đối với các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương.
Xuân Thanh
Nguồn: WB tháng 04/2024