Kể từ sau đại dịch Covid-19, các quốc gia trên thế giới đều phải hành động nhằm ứng phó với tình trạng lạm phát và biến động lãi suất sâu rộng nhất trong nhiều thập kỷ qua. Trong đó, thực tiễn đã chứng minh tại các thị trường mới nổi và đang phát triển đã thể hiện khả năng quản lý kinh tế, với việc phản ứng chính sách nhanh hơn và hiệu quả hơn.
Làn sóng lạm phát hậu Covid bùng phát gần như đồng đều trên toàn thế giới, giống như đại dịch đã gây ra. Sau khi tung ra một lượng lớn lượng tiền cung ứng ra nền kinh tế để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ năm 2018 đến năm 2020, các NHTW đã phải điều chỉnh tăng lãi suất để ứng phó với lạm phát dai dẳng.
Với tình trạng lạm phát đạt đỉnh ở hầu hết các quốc gia, NHTW các nước phải đối mặt với thách thức giảm lạm phát nhưng không để rơi vào suy thoái hoặc để giá tăng trở lại. Các quốc gia cần phải hết sức thận trọng với những quyết sách của mình. Gần đây, NHTW Thụy Sĩ trở thành NHTW ở thị trường phát triển đầu tiên cắt giảm lãi suất kể từ cuộc khủng hoảng. NHTW Nhật Bản tăng lãi suất lần đầu tiên sau 17 năm chính sách âm, Thổ Nhĩ Kỳ tăng 5 điểm phần trăm trong khi Brazil cắt giảm 0,5 điểm phần trăm. Hầu hết các ngân hàng trung ương lớn nhất thế giới, dẫn đầu là Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đều giữ nguyên lãi suất chính sách.
Cú sốc lạm phát sau đại dịch
Ban đầu, tác động toàn cầu của Covid lên giá cả rất đồng đều. Lạm phát có xu hướng thấp nhất ở các nước phát triển và cao nhất ở các nền kinh tế đang phát triển. Năm 2020, lạm phát có xu hướng giảm do tiêu dung giảm khiến các NHTW đã phải tung một lượng lớn tiền ra nền kinh tế để kích cầu. Khi các nước trên thế giới mở cửa trở lại cộng với tình trạng tắc nghẽn nguồn cung vào năm 2021 và 2022, giá cả trên toàn cầu ít nhiều đã tăng trở lại. Kể từ đó, sự phân chia đã mở ra; điều này thể hiện rõ ràng khi nhìn vào tỷ lệ lạm phát trung bình của các nước phát triển, mới nổi và các nước đang phát triển, quay trở lại năm 20141
Xu hướng lạm phát toàn cầu quay trở lại tại
các thị trường phát triển, mới nổi và đang phát triển
Nguồn: Bloomberg
Phản ứng của thế giới
Một số NHTW tại các thị trường mới nổi như Brazil đang tiến hành rất thành công trong việc cắt giảm lãi suất, với lạm phát giảm xuống mức mà người dân của họ có thể chấp nhận được. Lãi suất thực vẫn ở mức cao, tạo niềm tin rằng sẽ có thêm sự nới lỏng tiền tệ trong thời gian tới. Lãi suất cao ở Mỹ khiến các nước khác khó cắt giảm hơn, mặc dù nền kinh tế đang chậm lại. Trong biểu đồ dưới đây là so sánh mức lãi suất kể từ khi đại dịch từ năm 2020 đến nay ở 56 thị trường riêng lẻ và khu vực đồng euro bằng cách sử dụng điểm z, thước đo độ lệch chuẩn. Những con số này giúp giải thích thực tế là các thị trường phát triển có xu hướng có tỷ lệ thấp hơn.
� Năm 2020, gần như có sự tương đồng mức lãi suất trong thời gian dịch Covid
Nguồn: Bloomberg
� Vào năm 2021, khi vắc xin chỉ mới bắt đầu được tung ra thị trường, hầu hết NHTW đều giữ lãi suất ở mức thấp nhất ngay cả khi tình trạng tắc nghẽn nguồn cung sau đại dịch đã buộc giá cả tăng cao.
Nguồn: Bloomberg
� Đến năm 2022, các thị trường mới nổi đang thắt chặt tiền tệ nhanh chóng, nhưng các thị trường phát triển lại tăng tốc chậm hơn.
Nguồn: Bloomberg
� Từ năm 2023 đến nay, các ngân hàng trung ương đang ở những thái cực khác nhau của chu kỳ - lãi suất tăng ở các nước phương tây trong khi các thị trường mới nổi bắt đầu giảm.
Nguồn: Bloomberg
Các thị trường phát triển có tỷ lệ vượt quá 5 lần độ lệch chuẩn so với mức bình thường - mức mà mọi người đã tự tin thừa nhận trong suốt thập kỷ giảm phát mà họ sẽ không bao giờ gặp lại. Nhiều cơ cấu tài chính hiện có ở Mỹ hoặc Tây Âu đã được xây dựng - một cách có ý thức hoặc không - dựa trên giả định đó; điều đó giải thích lo ngại rằng lãi suất cao hơn trong thời gian dài hơn có thể gây ra khủng hoảng tài chính ở các nước phát triển, như đã xảy ra với sự sụp đổ trên thị trường chứng khoán chính phủ Anh vào tháng 9/2022 và ngân hàng ở Mỹ sụp đổ vào tháng 3 năm 2023. Đây cũng là lý do tại sao Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) hoặc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) đang giữ nguyên lãi suất chính sách và đang dự kiến cắt giảm lãi suất chính sách. Cụ thể: Fed đã giữ nguyên lãi suất liên bang ở mức cao nhất trong 23 năm là 5,25-5,5% trong cuộc họp vào tháng 3/2024. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách vẫn có kế hoạch cắt giảm lãi suất ba lần trong năm 2024. ECB cũng đã quyết định giữ nguyên lãi suất chủ chốt ở mức 4,0% trong kỳ họp tháng 3/2024, tái khẳng định lại rằng các quyết sách trong tương lai một phần sẽ phụ thuộc vào LPCB. Lạm phát CPI đã giảm trong gần 18 tháng và ở mức 2,6% trong tháng 2/2024; tuy nhiên, LPCB vẫn ở mức 3,1%.
Các thị trường mới nổi đã hành động hiệu quả.
Các thị trường được coi là “mới nổi” đã thể hiện khả năng quản lý kinh tế, kiểm soát mức tặng giá tốt hơn so với các nước phát triển. Quá trình giảm phát đang được tiến hành tốt. Đó là lý do tại sao Brazil và Mexico thực hiện cắt giảm lãi suất vào tháng 3 trong khi ECB và Fed vẫn giữ nguyên lãi suất.
Các thị trường mới nổi phản ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn
Nguồn: Bloomberg
Ở các nước mới nổi, quá trình đi lên bắt đầu sớm hơn và diễn ra từ từ hơn nhiều, dẫn đến lạm phát đỉnh điểm thấp hơn nhiều so với mức lạm phát ở các nước đang phát triển. Ở đó, lãi suất chỉ nằm trong khoảng hai độ lệch chuẩn so với mức bình thường trong thập kỷ. Các cuộc khủng hoảng tài chính trong hai năm qua đã tấn công Anh, Mỹ và Châu Âu, nhưng không ảnh hưởng đến thế giới mới nổi.
Khó khăn còn ở phía trước
Lạm phát của Mỹ được dự báo sẽ giữ nguyên cho năm 2024 (2,4% so với 2,4%) nhưng đã tăng cho năm 2025 (2,2% so với 2,1%) trong khi tỷ lệ cơ bản được coi là cao hơn trong năm nay (2,6% so với 2,4%) trong khi dự báo không thay đổi cho năm 2025 ở mức 2,2%. Khiến Fed giữ mức lãi suất cao nhất trong 23 năm qua. Lãi suất cao của Mỹ cũng thu hút vốn từ các thị trường khác đổ vào tiền mặt và trái phiếu. Điều đó làm suy yếu các loại tiền tệ khác - làm cho xuất khẩu trở nên cạnh tranh hơn trong khi gây áp lực lạm phát bằng cách đẩy giá nhập khẩu lên cao. Điều này cũng làm cho việc xử lý các khoản nợ bằng đồng đô la trở nên đắt đỏ hơn.
Câu hỏi quan trọng là các NHTW có thể hành động nhanh đến mức nào. Hãng tin Bloomberg dự báo lãi suất sau mỗi cuộc họp trong năm tới cho các NHTW ở nước phát triển lớn nhất thế giới dựa trên giá cả trên thị trường hợp đồng tương lai và hoán đổi chỉ số qua đêm. Nếu lãi suất qua đêm do NHTW kiểm soát dự kiến sẽ sớm giảm, điều đó sẽ làm giảm lãi suất trái phiếu hoặc lãi suất thế chấp mà NHTW không cần phải làm gì./.
Ngọc Khuê
Nguồn: Bloomberg
1 Các con số được tính ở mức trung bình và loại trừ Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina. Thổ Nhĩ Kỳ đã phải gánh chịu lạm phát hiện ở mức gần 70% sau khi cắt giảm lãi suất từ năm 2021-2023. Và ở Argentina, nơi lạm phát là 276% đã có từ rất lâu trước đại dịch.