Các ví điện tử đang tăng trưởng bùng nổ nhưng "hệ sinh thái ví điện tử" toàn cầu không phải là một mô hình chung cho tất cả. Dù đang dần chiếm lĩnh thị trường, ví điện tử không hoàn toàn thay thế thẻ truyền thống. Thay vào đó, các loại ví điện tử trung gian (như Apple Pay, Chase Pay...) hoặc ví điện tử nhiều giai đoạn (như Paypal, Google Wallet...) đang trở thành xu hướng, đặc biệt ở những thị trường thẻ phát triển như Hoa Kỳ, Anh, Canada và Úc. Người tiêu dùng vẫn tận dụng các lợi ích của thẻ (điểm thưởng, chương trình khách hàng thân thiết và bảo vệ mua hàng) nhưng có thể sử dụng ví điện tử một cách tiện lợi và an toàn khi thanh toán.
Ví thanh toán A2A có thể thách thức sự thống trị của thẻ
Các hệ thống thanh toán từ tài khoản đến tài khoản (A2A) phải giải quyết các thách thức về bảo mật và phần thưởng để có thể phá vỡ mô hình kinh doanh của thẻ. Theo truyền thống, các ngân hàng phát hành thẻ thiết kế các chương trình khách hàng thân thiết nhằm khuyến khích việc sử dụng thẻ và tạo ra phí giao dịch. Khách hàng hài lòng với điểm thưởng, hoàn tiền, hoặc các phần thưởng khác, và ngân hàng duy trì được mô hình kinh doanh có lãi.
Sáu tổ chức phát hành thẻ tín dụng hàng đầu tại Mỹ (chiếm hơn 70% khối lượng giao dịch mua bằng thẻ tín dụng của người tiêu dùng) đã chi ra gần 68 tỷ USD cho đổi thưởng hoặc thanh toán cho đối tác trong năm 2022. Dù phải chi trả số tiền lớn này, các ngân hàng vẫn có lợi. Sau khi trừ tất cả chi phí, các ngân hàng lớn này vẫn thu về gần 32 tỷ USD từ phí giao dịch trong năm 2022, cho thấy sự tăng trưởng tốt so với các năm trước đó.
Một hệ thống giải quyết tranh chấp mạnh và chặt chẽ là yếu tố then chốt giúp thẻ thanh toán trở nên phổ biến. Không giống như các phương thức thanh toán khác, chủ thẻ khi gặp vấn đề với giao dịch mua có thể yêu cầu ngân hàng của họ tiến hành xác minh. Khi ngân hàng xác nhận yêu cầu khiếu nại là hợp lý, họ sẽ lấy lại số tiền bị tranh chấp thông qua quy trình hoàn trả tiền (chargeback) từ ngân hàng của người bán. Quy trình này là nền tảng của hệ thống quản lý tranh chấp trong mạng lưới thẻ toàn cầu, giúp đảm bảo an toàn và tạo sự yên tâm cho người tiêu dùng khi sử dụng thẻ. Các tranh chấp phổ biến bao gồm đơn hàng không được giao do hủy bỏ, trễ hạn giao hàng, hoặc không thể nhận hàng (hàng hóa/dịch vụ không được cung cấp).
Một khiếu nại phổ biến khác liên quan đến các giao dịch định kỳ vẫn tiếp diễn sau khi đã hủy hoặc đóng tài khoản (giao dịch định kỳ bị hủy). Các tranh chấp cũng xảy ra khi sản phẩm hoặc dịch vụ nhận được không khớp với mô tả hoặc bị lỗi (hàng hóa/dịch vụ không đúng như mô tả hoặc bị lỗi). Cùng với sự phát triển của thương mại điện tử, tình trạng hàng giả cũng gia tăng, dẫn đến các yêu cầu khiếu nại liên quan đến hàng giả. Bằng cách cung cấp một lộ trình rõ ràng cho việc giải quyết tranh chấp, các mạng lưới thẻ thanh toán tạo điều kiện để khách hàng cảm thấy an toàn hơn khi thực hiện giao dịch trực tuyến và ngoại tuyến.
Tuy nhiên, sự thống trị của thẻ thanh toán đang gặp phải trở ngại từ các quy định giới hạn phí giao dịch liên ngân hàng, vốn là nguồn tài trợ cho nhiều chương trình thưởng của thẻ. Ví dụ, vào tháng 12/2015, Liên minh Châu Âu (EU) đã giới hạn phí giao dịch liên ngân hàng đối với thẻ tín dụng tiêu dùng ở mức 0,3% giá trị giao dịch và phí đối với thẻ ghi nợ ở mức 0,2%. Phí giao dịch liên ngân hàng thấp hơn có thể khiến phần thưởng ít hấp dẫn hơn, làm giảm sự thu hút của thẻ thanh toán và tạo cơ hội cho các chương trình thưởng do người bán tài trợ (MFRs).
Không giống như các phần thưởng thẻ truyền thống, MFRs là sự hợp tác giữa doanh nghiệp và ngân hàng, có thể thưởng cho việc sử dụng thanh toán tức thời A2A. Ở đây, người bán được hưởng lợi từ mức phí giao dịch A2A thấp hơn so với thẻ và khoản tiết kiệm này có thể chuyển cho khách hàng dưới dạng hoàn tiền, điểm thưởng hoặc giảm giá khuyến khích sử dụng A2A. Khách hàng liên kết tài khoản ngân hàng của họ với chương trình MFR, và khi sử dụng A2A tại các nhà bán lẻ tham gia, chương trình sẽ tự động nhận diện giao dịch và áp dụng phần thưởng. MFRs cho phép người bán lập hóa đơn cho phần thưởng sau đó, giúp người bán thu hút khách hàng bằng phần thưởng trong khi tiết kiệm chi phí, còn khách hàng được hưởng lợi từ các ưu đãi và tiềm năng của thanh toán A2A tức thời với tốc độ nhanh và an toàn hơn.
Ngoài chức năng cốt lõi của mình, thanh toán A2A tức thời có thể phát triển để cung cấp các tính năng tương tự như thẻ tín dụng. Ví dụ, hệ thống UPI của Ấn Độ đã ra mắt một hạn mức tín dụng được phê duyệt trước liên kết trực tiếp với ID UPI người dùng, cho phép khách hàng sử dụng hạn mức tín dụng khi thanh toán trực tuyến hoặc tại cửa hàng thông qua mã QR. Các điều khoản thanh toán linh hoạt, từ vài tháng đến nhiều năm, phù hợp với nhu cầu cá nhân. Các hạn mức tín dụng UPI thường có phí giao dịch liên ngân hàng và lãi suất thấp hơn so với thẻ tín dụng truyền thống. Sự kết hợp này giữa thanh toán A2A tức thời và chức năng tín dụng có thể tạo ra thay đổi đáng kể, sánh ngang với sự tiện lợi và linh hoạt của thẻ tín dụng, đồng thời có thể cung cấp các điều khoản tốt hơn.
Thanh toán vi mô (micropayments) cũng là một động lực khác của thanh toán A2A tức thời, mang đến tiềm năng thay thế cho các mô hình đăng ký thuê bao truyền thống. Với tỷ lệ hủy đăng ký ngày càng cao do các gói đăng ký không linh hoạt, doanh nghiệp có thể tận dụng thanh toán vi mô như một tùy chọn chỉ trả tiền khi sử dụng. Mô hình tiêu dùng theo yêu cầu này mang lại cơ hội thu hồi doanh thu đã mất và mở rộng tính ứng dụng của thanh toán vi mô ra khỏi các lĩnh vực hiện tại như nền tảng người có ảnh hưởng, truyền thông ngách, và kinh tế chia sẻ. Tuy nhiên, các phương thức thanh toán truyền thống, đặc biệt là thẻ với các khoản phí đi kèm, trở nên kém hiệu quả hơn khi xử lý các giao dịch nhỏ. Tốc độ, hiệu quả và chi phí thấp của thanh toán A2A tức thời cho phép việc áp dụng thanh toán vi mô rộng rãi hơn trong nhiều lĩnh vực.
Thanh toán A2A tức thời cũng mang lại lợi ích về mặt vận hành. Ví dụ, các giao dịch thẻ yêu cầu quá trình ủy quyền, điều này có thể làm giảm tỷ lệ chuyển đổi của nhiều nhà bán lẻ. Ngược lại, thanh toán A2A tức thời sử dụng thông tin tài khoản ngân hàng để xác nhận người nhận thanh toán (như VOP ở EU), giúp giảm gian lận và hạn chế các trường hợp bồi hoàn.
Với những lợi thế này, thanh toán A2A tức thời có thể bổ sung mạnh mẽ cho thẻ thanh toán. Tuy nhiên, việc áp dụng rộng rãi A2A tức thời có thể cạnh tranh với thẻ tín dụng. Khảo sát của Capgemini với các giám đốc điều hành thanh toán nhấn mạnh khả năng này, với ước tính thanh toán A2A tức thời có thể bù đắp 15-25% tăng trưởng khối lượng giao dịch thẻ trong tương lai. Đáng chú ý, 77% số người tham gia khảo sát cho rằng thẻ ghi nợ và thẻ trả trước sẽ bị ảnh hưởng nhiều nhất bởi thanh toán A2A tức thời, trong khi 23% dự đoán sự gián đoạn lớn đối với thẻ tín dụng. Tuy nhiên, ở các thị trường có tỷ lệ sử dụng thẻ cao như Mỹ và Anh, sự chuyển đổi sang thanh toán A2A tức thời, thay vì thẻ, được dự đoán sẽ diễn ra chậm.
Châu Âu có sự thay đổi về ví điện tử: EPI ra mắt Wero
Vào quý III/2024, Sáng kiến Thanh toán Châu Âu (EPI) đã ra mắt Wero, một ví điện tử và giải pháp chuyển tiền ngay lập tức. Wero cho phép người dùng gửi và nhận tiền ngay lập tức thông qua số điện thoại, mã QR hoặc địa chỉ email. Sau khi ra mắt tại Đức, EPI có kế hoạch triển khai Wero tại Bỉ và Pháp vào năm 2024, tiếp theo là Hà Lan vào năm 2025, với tham vọng mở rộng khắp Châu Âu. Hiện tại, Wero tập trung vào các khoản thanh toán từ cá nhân tới cá nhân (P2P) trong và ngoài biên giới. Trong tương lai, nó sẽ mở rộng thanh toán cho các doanh nghiệp nhỏ, thương gia trực tuyến, thương mại điện tử và hóa đơn định kỳ (2025) và thanh toán tại cửa hàng, tùy chọn mua trước trả sau, chương trình khách hàng thân thiết và chia sẻ chi phí (2026).
Wero có tiềm năng mở rộng sự thuận tiện thanh toán tức thời. Nó có thể tạo một sân chơi cho các ngân hàng châu Âu cạnh tranh với các ví điện tử của các BigTech như Apple Pay và Google Pay. Hiện những gã khổng lồ công nghệ này đang thống trị lĩnh vực ví thanh toán điện tử. Là một giải pháp toàn châu Âu, Wero cung cấp giải pahsp thay thế tạp điều kiện cho các ngân hàng châu Âu cạnh tranh hiệu quả hơn.
Bên cạnh đó, Wero có thể hợp nhất hệ thống thanh toán phân mảnh của châu Âu dưới một thương hiệu duy nhất, trong khi hiện nay, các quốc gia và khu vực châu Âu có nhiều phương thức và hệ thống thanh toán khác nhau. EPI dự định biến Wero thành một ví duy nhất cho mọi nhu cầu thanh toán, điều này có thể thống nhất bức tranh phân mảnh của châu Âu với một trải nghiệm người dùng mượt mà hơn.
Khảo sát của Capgemini cho thấy Wero sẽ có tác động đáng kể đến các phương thức thanh toán truyền thống ở Châu Âu khi 37% dự đoán rằng Wero sẽ làm giảm đáng kể sự tăng trưởng của các giao dịch thẻ trên toàn Châu Âu; 22% cho rằng Wero sẽ có tác động lớn đến các giao dịch chuyển khoản; 31% tin rằng các giao dịch ghi nợ trực tiếp sẽ bị ảnh hưởng rõ rệt.
Lấy cảm hứng từ sáng kiến EPI của Châu Âu, một liên minh gồm bảy ngân hàng Mỹ đã hợp tác với Early Warning Services (EWS), nhà điều hành của Zelle, để ra mắt Paze, một ví điện tử dựa trên thẻ nhằm đối phó với sự thống trị của các ví BigTech và FinTech tại Hoa Kỳ. Các giám đốc điều hành của Paze cho biết họ dự kiến sẽ triển khai toàn quốc vào cuối năm 2024, với gần 150 triệu thẻ được mã hóa từ các ngân hàng hàng đầu của Mỹ và được chấp nhận bởi khoảng 80.000 thương gia, chủ yếu là các doanh nghiệp nhỏ. Tính chất không phụ thuộc vào cổng thanh toán của Paze giúp nó có thể được sử dụng trên nhiều nền tảng khác nhau, mở rộng phạm vi và tính năng vượt ra ngoài các ví điện tử truyền thống.
Sự gia tăng của thanh toán tức thời A2A ảnh hưởng đáng kể đến doanh thu của ngân hàng. Các ngân hàng cần phải khai thác thanh toán A2A để bù đắp sụt giảm doanh thu từ các phương thức thanh toán truyền thống. Tuy nhiên, đối với các ngân hàng, ví điện tử độc lập sẽ không đủ. Các tên tuổi lớn như Apple Pay và Google Pay đang chiếm lĩnh thị trường, trong khi các giải pháp Fintech sáng tạo cung cấp lượng người dùng lớn và các tính năng toàn diện. Ví điện tử do ngân hàng sở hữu thường gặp khó khăn nếu thiếu các tính năng phong phú hoặc tích hợp liền mạch với các mạng lưới thanh toán và hệ sinh thái thương gia hiện có. Chi phí thu hút khách hàng cao trong không gian cạnh tranh này có thể trở thành gánh nặng, dẫn đến việc âm thầm ngừng hoạt động, như đã xảy ra với một số ví điện tử do ngân hàng sở hữu trước đây.
Thanh toán tức thì được định hướng để cùng tồn tại trong một hệ sinh thái đa kênh kết nối
Bank of America đã tái định hình cách 57 triệu khách hàng kỹ thuật số của mình quản lý tài chính bằng một ứng dụng di động thống nhất ra mắt vào quý I/2024. Nền tảng đơn giản này thay thế 5 ứng dụng riêng biệt, cung cấp cái nhìn toàn diện 360 độ về tài khoản ngân hàng, đầu tư và hưu trí của người dùng. Đáp ứng các nhu cầu tài chính cá nhân với một loạt giải pháp kỹ thuật số, ứng dụng này hoạt động như một trung tâm chính cho mọi thứ từ thanh toán hóa đơn và chuyển tiền (bao gồm chia sẻ hóa đơn với bạn bè) đến chuyển khoản quốc tế và trong nước bằng hơn 140 loại tiền tệ tại 200 quốc gia tính đến tháng 7/2024. Ngân hàng đã báo cáo rằng ứng dụng này đã tạo ra 147.000 lượt giới thiệu nội bộ trong vòng bốn tháng, dẫn đến 13,5 tỷ USD tài sản mới được quản lý.
Hãy tưởng tượng một nền tảng tài chính duy nhất, tích hợp liền mạch các phương thức thanh toán khác nhau, cho phép người dùng dễ dàng chuyển đổi giữa thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ, thanh toán tức thì A2A và các phương thức thanh toán khác. Theo mô hình của Bank of America, nền tảng này sẽ quản lý tài khoản đồng thời điều phối một hệ sinh thái kết nối các dịch vụ tài chính và phi tài chính. Hãy nghĩ đến các tính năng như thanh toán hóa đơn, chuyển tiền, công cụ đầu tư, chương trình khách hàng thân thiết, và nhiều dịch vụ khác đều có thể truy cập từ một trung tâm duy nhất. Giải pháp toàn diện "một điểm đến" này không chỉ mở ra những nguồn doanh thu mới cho các ngân hàng mà còn tận dụng sức mạnh của chiến lược thanh toán đa kênh trong một hệ sinh thái tài chính phát triển mạnh mẽ.
Trung tâm thanh toán đa kênh hoạt động như một trung tâm điều hành chính, được tích hợp liền mạch với một nền tảng thanh toán thống nhất hoạt động ngầm, phân tích giao dịch một cách thông minh bằng cách định tuyến linh hoạt. Nói một cách đơn giản, nó xác định phương thức thanh toán hiệu quả nhất cho từng tình huống.
Đối với người tiêu dùng muốn thanh toán hóa đơn nhanh chóng, nền tảng có thể chuyển giao dịch thông qua một chuyển khoản A2A tức thì. Đề xuất thẻ tín dụng có thể tối ưu hóa phần thưởng cho các giao dịch mua lớn, tự động cho phép khách hàng chọn phương thức thanh toán hiệu quả nhất. Dữ liệu thu thập được qua hệ thống đa kênh này là một tài sản quý giá khác. Bằng cách phân tích các giao dịch qua nhiều kênh khác nhau, các ngân hàng có được những hiểu biết sâu sắc về hành vi của khách hàng trên các kênh khác nhau. Dữ liệu phong phú này cho phép đề xuất sản phẩm cá nhân hóa và bán chéo các sản phẩm hoặc dịch vụ tài chính phù hợp theo ngữ cảnh để tăng cường tương tác với khách hàng.
Phương pháp tiếp cận đa kênh cung cấp cho các ngân hàng một chiến lược bảo vệ các nguồn doanh thu hiện có từ các phương thức thanh toán truyền thống, đồng thời khám phá các dòng giá trị thanh toán tức thì mới bằng cách phát triển các trường hợp sử dụng tài chính mở sáng tạo.
Các nhà điều hành thẻ như Mastercard và Visa đang dẫn đầu chiến lược thanh toán đa kênh, nhằm tạo ra một hệ sinh thái thanh toán tận dụng thanh toán tức thì, tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC), các mạng lưới hiện có như SWIFT, ACH và SEPA, cùng với mạng lưới ngân hàng đại lý, mạng lưới thẻ truyền thống và thậm chí các giải pháp độc quyền. Bằng cách cung cấp các lựa chọn thanh toán cho các mô hình kinh doanh khác nhau (P2P, B2C, C2B, B2B, G2C), chiến lược thanh toán đa kênh hướng tới một thị trường có thể phục vụ lên đến khoảng 235 nghìn tỷ USD.
Các ngân hàng có thể hợp tác với các nhà điều hành thẻ và tận dụng chuyên môn của họ về thanh toán đa kênh để tung ra các giải pháp thanh toán mới. Ví dụ, tại Vương quốc Anh, HSBC đã hợp tác với Visa để ra mắt ứng dụng thanh toán quốc tế Zing vào tháng 1 năm 2024. Người dùng Zing có thể quản lý tài chính xuyên biên giới, giữ tiền trong hơn 10 loại tiền tệ, gửi tiền tới hơn 30 quốc gia và giao dịch tại hơn 200 quốc gia — tất cả chỉ qua một ứng dụng duy nhất.
Từ vai trò là người kiểm soát đến người tạo ra giá trị
Mô hình kinh doanh lâu đời trong đó các ngân hàng tạo ra doanh thu thông qua các khoản phí sản phẩm, đang dần trở nên lỗi thời. Thay vào đó, mô hình ngân hàng thị trường là một mô hình tài chính trong đó ngân hàng đóng vai trò là nền tảng, kết nối khách hàng với các sản phẩm và dịch vụ tài chính, bao gồm cả từ các nhà cung cấp bên thứ ba. Đây là một lựa chọn thay thế hấp dẫn, hoạt động như một cửa hàng tổng hợp cho khách hàng. Các nền tảng này không chỉ dừng lại ở những gì một ngân hàng đơn lẻ có thể cung cấp mà còn đưa ra một bộ sản phẩm và dịch vụ tài chính được tuyển chọn, thiết kế để đáp ứng các nhu cầu cụ thể của khách hàng.
Tại Vương quốc Anh, Starling Marketplace hợp tác với Fintenh và các nhà cung cấp dịch vụ phong cách sống để cung cấp nhiều lựa chọn đa dạng ngay trong ứng dụng của mình. Tương tự, Revolut áp dụng cách tiếp cận toàn cầu, với các tính năng như bảo hiểm trong ứng dụng và quản lý tài sản.
Ở Brazil, NuBank đã ra mắt thị trường của mình vào năm 2021 và đến năm 2023 đã đạt 225 triệu lượt truy cập từ khách hàng.
Singapore là một ví dụ điển hình về ngân hàng thị trường. OCBC Bank với OCBC OneAdvisor Home giúp đơn giản hóa việc mua bất động sản với các công cụ tính toán khả năng chi trả và tìm kiếm. DBS Bank đã ra mắt các thị trường chuyên biệt dành cho xe cộ, điện, bất động sản, giáo dục, y tế và du lịch – tất cả đều phục vụ các nhu cầu cụ thể của người tiêu dùng.
Những ngân hàng này đang không chỉ cung cấp các dịch vụ tài chính mà còn xây dựng hệ sinh thái đa dạng, cung cấp cho khách hàng các giải pháp toàn diện phù hợp với nhiều nhu cầu khác nhau.
Những ví dụ này làm nổi bật tiềm năng của mô hình thị trường cho thanh toán. Hiệu ứng mạng lưới mạnh mẽ mang lại khả năng mở rộng cao và khối lượng giao dịch lớn, đồng thời tạo ra rào cản cạnh tranh. Điều này không chỉ là việc bán sản phẩm mà còn là xây dựng một hệ sinh thái tài chính toàn diện, giúp khách hàng chủ động và thúc đẩy sự gắn kết lâu dài. Bằng cách cung cấp một hệ sinh thái thanh toán đa kênh bao gồm cả chuyển khoản A2A tức thì và các phương thức thanh toán truyền thống, các tổ chức tài chính có thể đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng trong mô hình ngân hàng thị trường, thúc đẩy khối lượng giao dịch gia tăng và xây dựng chiến lược thanh toán bán lẻ sinh lời.
MN (theo Capgemini WPR 2025)