Ngày 07/10/2024, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) đã công bố báo cáo kết quả điều tra về tình hình thực hiện Basel 3 tính đến cuối tháng 12/2023.
Nhằm đánh giá tác động của khung khổ Basel 3 đối với các ngân hàng, Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng đã theo dõi ảnh hưởng và động lực của cải cách. Để đạt mục tiêu này, khung khổ giám sát định kỳ sáu tháng một lần đã được thiết lập theo tỷ trọng vốn dựa trên rủi ro, tỷ lệ đòn bẩy, thước đo thanh khoản - dữ liệu do các cơ quan giám sát quốc gia cung cấp theo quy định tại mỗi quốc gia. Kể từ cuối năm 2017, báo cáo đã thâu tóm tác động của việc hoàn tất cải cách Basel 3. Báo cáo này tóm tắt kết quả tổng thể dựa trên dữ liệu tính đến ngày 31/12/2023 do 180 ngân hàng cung cấp, bao gồm 118 ngân hàng quốc tế lớn nhất (G1- ngân hàng nhóm 1), trong đó có 29 ngân hàng chiến lược toàn cầu (G-SIBs); và 62 ngân hàng nhóm 2 (G2).
Kết quả tổng quan (tập dữ liệu chưa cân đối)
|
30/6/2023 |
31/12/2023 |
||||
|
G1 |
G-SIBs |
G2 |
G1 |
G-SIBs |
G2 |
Khung khổ Basel 3 hiện hành |
||||||
Tỷ trọng CET1 (%) |
12,9 |
12,7 |
17,7 |
13,1 |
13,0 |
18,1 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (1) |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(2) |
13,9 |
13,9 |
|
26,0 |
26,0 |
|
Tổng tài sản kế toán (tỷ EUR) |
83.639 |
58.812 |
2.656 |
90.400 |
59.838 |
4.009 |
Tỷ lệ đòn bẩy (%) |
6,0 |
6,1 |
6,1 |
6,1 |
6,0 |
6,7 |
Tỷ lệ đòn bẩy an toàn (%) |
138,5 |
137,0 |
191,1 |
138,4 |
136,1 |
201,4 |
NSFR (%) |
123,9 |
123,9 |
134,7 |
122,6 |
123,1 |
133,9 |
Khung khổ Basel 3 cuối cùng đầy đủ (2028) |
||||||
Thay đổi MRC cấp 1 (2) |
2,4 |
2,4 |
0,2 |
1,3 |
0,2 |
8,0 |
Tỷ trọng CET1 (%) |
13,7 |
13,9 |
17,3 |
13,5 |
13,6 |
16,6 |
Thiếu hụt vốn mục tiêu (tỷ EUR) |
3,3 |
3,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
CET1 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Vốn cấp 1 bổ sung |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Vốn cấp 2 |
3,3 |
3,3 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
0,0 |
Thiếu hụt TLAC tối thiểu 2022(1) |
13,9 |
13,9 |
|
30,1 |
30,1 |
|
Tỷ lệ đòn bẩy (%) |
6,1 |
6,1 |
6,4 |
6,1 |
6,0 |
6,7 |
Nguồn: BIS tháng 10/2024
(1): Tỷ EUR, sử dụng định nghĩa năm 2017 về rủi ro tỷ lệ đòn bẩy;
(2): Tỷ EUR.
• So với cuối tháng 6/2023, tỷ trọng vốn cổ phần cấp 1 (CET1) tại các ngân hàng nhóm 1 tăng trung bình lên 13,1% vào cuối tháng 12/2023. Tác động của khung khổ Basel 3 đối với vốn cấp 1 tối thiểu theo yêu cầu (MRC) tại các ngân hàng nhóm 1 giảm 1,3%; cao hơn kết quả tăng 2,4% trong 6 tháng đầu năm 2023. Trong đó, ngân hàng nhóm G-SIBs ghi nhận mức tăng trung bình 0,2%.
• Đối chiếu với quy định năm 2022 về năng lực hấp thụ lỗ tổng thể (TLAC) tối thiểu và khung khổ Basel 3 hiện hành, 2/23 báo cáo của G-SIBs ghi nhận tổng mức thiếu hụt lũy kế 26 tỷ EUR.
• Tại các ngân hàng nhóm 1, tỷ lệ đòn bẩy an toàn (LCR) ổn định ở mức trung bình 138,4% so với dữ liệu trước đó, trong khi tỷ lệ quỹ bình ổn ròng (NSFR) giảm từ 123,9% xuống 122,6%. Trái lại, không thể tiến hành so sánh tại các ngân hàng nhóm 2, nguyên nhân là do những thay đổi đáng kể trong mẫu điều tra.
Tỷ trọng vốn theo quy định Basel 3 vẫn tương đối ổn định
• Tại các ngân hàng G1, tỷ trọng vốn theo quy định Basel 3 ghi nhận mức tăng nhẹ, tương đương với kết quả điều tra cuối năm 2022, nguyên nhân là do vốn cấp 1 tăng cao hơn so với tài sản rủi ro gia quyền (RWA). Trong tháng 12/2023, tỷ lệ vốn CET1 tổng thể tại các ngân hàng G1 đứng ở mức 13,1%.
• Gần đây, tỷ lệ vốn cấp 1 tại các ngân hàng châu Âu cao hơn so với tại Mỹ và phần còn lại trên thế giới. Tuy nhiên, mối quan hệ này đã đảo chiều từ năm 2011 đến năm 2014.
Tác động của Basel 3 cuối cùng đối với các ngân hàng G1 giảm so với trước
• Đối chiếu với tiêu chuẩn Basel 3 cuối cùng, MRC cấp 1 tại các ngân hàng G1 tăng 1,3%, chủ yếu nhờ tác động lũy kế của tỷ lệ đòn bẩy theo yêu cầu (0,3%) và các cấu thành rủi ro (tăng 1,0%). Kết quả tăng các cấu thành rủi ro bắt nguồn chủ yếu từ sàn thu nhập (+1,4%), rủi ro thị trường (+0,9%) và phần bù đắp bởi rủi ro tín dụng (-1,2%).
• Tác động trung bình của chuẩn mực Basel 3 cuối cùng đối với MRC tại các ngân hàng G1 ở mức 1,3%, giảm 110 điểm cơ bản so với cuối tháng 6/2023 (2,4%).
• Tác động của chuẩn mực Basel 3 cuối cùng đối với MRC tại các ngân hàng G1 có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực, tăng nhẹ tại các ngân hàng Mỹ (0,3%), tăng cao tại châu Âu (5%), giảm tại phần còn lại trên thế giới (-0,2%).
• Đối với các ngân hàng G2, mức tăng tổng thể 8,0% về MRC cấp 1 được dẫn dắt bởi các thước đo dựa trên rủi ro (10,9%), chủ yếu bắt nguồn từ rủi ro tín dụng (5,4%), sàn thu nhập (3,2%), một phần được bù đắp bởi mức giảm trừ tỷ lệ đòn bẩy MRC (-2,9%).
Tỷ lệ đòn bẩy tại G-SIBs ổn định trong sáu tháng cuối năm 2023
• Đối chiếu với quy định Basel 3 đầy đủ, tỷ lệ đòn bẩy tại các ngân hàng G1 vẫn ổn định so với giai đoạn trước, tương phản với mức sụt giảm khá sâu bắt đầu vào cuối tháng 6/2021, chủ yếu là tại Mỹ.
• Tỷ lệ đòn bẩy trung bình 5,0% tại các ngân hàng G1 châu Âu vẫn thấp hơn tại Mỹ (5,9%), và phần còn lại trên thế giới (6,8%).
• Đến cuối năm 2023, tỷ lệ vốn cấp 1 trung bình theo quy định Basel 3 đầy đủ tại các ngân hàng G1, G-SIBs và G2 lần lượt là 6,1%; 6,0%; và 6,7%.
• Sau báo cáo mức thiếu hụt 3,3 tỷ EUR vào cuối tháng 6 vừa qua, các ngân hàng đã cải thiện năng lực về vốn và đã có đủ vốn điều lệ.
CET1của G-SIBs lập kỷ lục mới trong khi thanh toán lãi cổ phần vẫn ổn định
• Từ cuối tháng 6/2011 đến cuối tháng 12/2023, vốn CET1 tại các ngân hàng G1 tăng 141% từ 1.644 tỷ EUR lên 3.969 tỷ EUR, riêng trong 6 tháng cuối năm 2023 tăng 116 tỷ EUR (3,0%).
• Trong 6 tháng cuối năm 2023, vốn CET1 ghi nhận xu hướng tăng tại các ngân hàng Mỹ và phần còn lại trên thế giới. Từ tháng 6/2011, vốn CET1 của các ngân hàng tại phần còn lại trên thế giới tăng trên 200%, cao hơn kết quả tăng 74% tại châu Âu và 98% tại Mỹ.
• Về tổng thể, lãi sau thuế của các ngân hàng G1 giảm xuống 240,9 tỷ EUR trong sáu tháng cuối năm 2023, phù hợp với xu hướng lợi nhuận trong cùng kỳ năm trước. Cũng như năm trước, thanh toán tiền lãi cổ phần chiếm tỷ lệ 32,2%.
Thanh toán lãi cổ phần khác nhau giữa các khu vực
• So với báo cáo hàng năm kết thúc vào cuối năm 2022, lợi nhuận sau thuế năm 2023 của các ngân hàng G1 tăng đáng kể tại châu Âu (58,7%) - chủ yếu bắt nguồn từ kết quả sáp nhập 2 ngân hàng lớn diễn ra vào đầu năm 2023, đi ngang tại Mỹ và phần còn lại trên thế giới.
• So với báo cáo trước đó, tỷ lệ thanh toán lãi cổ phần hàng năm giảm tại châu Âu, tăng tại Mỹ và tương đối ổn định tại phần còn lại trên thế giới. Tỷ lệ này thấp đáng kể so với kỷ lục ghi nhận trong năm 2019 và 2020 tại Mỹ, tương đương với tỷ lệ trước đại địch (tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới).
Tỷ trọng rủi ro tín dụng MRC ổn định
• Kể từ tháng 12/2023, rủi ro tín dụng phi chứng khoán tiếp tục chi phối và chiếm 72,8% trong tổng MRC của các ngân hàng G1. Tuy nhiên, khi so sánh với cuối tháng 6/2011, tỷ trọng rủi ro tín dụng đã giảm đáng kể xuống 76,4%. Trong nhóm tài sản rủi ro tín dụng phi chứng khoán, tỷ trọng rủi ro MRC đối với các doanh nghiệp tăng từ 28,9% vào cuối tháng 6/2011 lên 34,4%.
• Tỷ trọng rủi ro hoạt động trong MRC tăng nhanh, từ 7,5% vào cuối tháng 6/2011 lên 16,3% vào cuối năm 2018, sau đó giảm dần xuống 14,2% vào cuối năm 2023. Xu hướng gia tăng rủi ro trong những năm đầu thập niên 2010 chủ yếu bắt nguồn từ sự bùng phát rủi ro hoạt động trong và sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, đó là những khoản phải thu khi tính toán rủi ro hoạt động đối với MRC theo cách tiếp cận tiên tiến. Trái lại, thiệt hại do đại dịch gây ra không gây tác động nghiêm trọng, mà thay đổi do đại dịch vẫn kéo dài.
• Từ tháng 6/2011 đến cuối năm 2023, tỷ trọng rủi ro MRC đối với cho vay chứng khoán giảm từ 6,5% xuống 2,6%.
NSFR vượt ngưỡng 100% nhưng ba ngân hàng báo cáo LCR dưới 100%
• Đến cuối năm 2023, LCR bình quân gia quyền đạt 138,4% tại các ngân hàng G1 và 201,4% tại các ngân hàng G2.
• Trong kỳ báo cáo này, ba ngân hàng G1 báo cáo LCR dưới 100% với mức thiếu hụt chung 13,5 tỷ EUR.
• Đến cuối năm 2023, NSFR bình quân gia quyền đạt 122,6% tại các ngân hàng G1 và 133,9% tại các ngân hàng G2, các ngân hàng đều báo cáo NSFR vượt 100%.
• Do ba ngân hàng G1 chưa đáp ứng tỷ lệ 100% về LCR, nên thiếu hụt vốn tổng thể ở mức 11,2 tỷ EUR, nhưng đã giảm 5,0 tỷ EUR so với sáu tháng trước. So với tỷ lệ 139,1% trong báo cáo sáu tháng đầu năm 2023, LCR đã giảm xuống tỷ lệ trung bình 137,4% vào cuối năm 2023.
• Cũng như kỳ trước, các ngân hàng G1 tiếp tục báo cáo NSFR vượt 100%, mặc dù NSFR trung bình giảm nhẹ từ tỷ lệ 123,8% xuống 123,2% vào tháng 12/2023, cả LCR và NSFR đều vượt tỷ lệ trước đại dịch.
LCR và NSFR tại các ngân hàng G2 đều tăng
• Kể từ tháng 6/2017, các ngân hàng G2 đều báo cáo đã đáp ứng đầy đủ LCR theo yêu cầu, thậm chí tăng tới 15,6% lên 194,1% vào tháng 12/2023, chủ yếu là do dòng vốn ra ròng giảm đáng kể so với kỳ báo cáo trước.
• Trong bảng cân đối kế toán của các ngân hàng G2, thiếu hụt NSFR tổng thể tiếp tục đứng ở mức không, thậm chí tăng nhẹ 0,8% lên 125,8% vào tháng 12/2023.
NSFRs tương đối ổn định, LCRs của các ngân hàng G1 tăng tại châu Âu và giảm tại phần còn lại trên thế giới,
• Từ năm 2019, LCRs bình quân gia quyền của hầu hết các ngân hàng G1 tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới đều vượt tỷ lệ 140%, cao hơn tỷ lệ 121% tại Mỹ. Ban đầu, LCRs trung bình của các ngân hàng Mỹ và châu Âu thấp hơn so với phần còn lại trên thế giới, nhưng LCRs tại châu Âu và phần còn lại trên thế giới có xu hướng đồng quy trước khi xảy ra đại dịch.
• Cuối năm 2023, NSFR bình quân gia quyền của các ngân hàng nhóm 1 tại tất cả các khu vực đều vượt tỷ lệ 100%. Trong đó, NSFR trung bình tại châu Âu tăng từ tỷ lệ 121,4% vào cuối tháng 6/2023 lên 121,7% vào cuối năm 2023. Sau khi giảm đáng kể trong sáu tháng đầu năm 2022, NSFR của các ngân hàng tại Mỹ tiếp tục giảm, xuống tỷ lệ 119,3% vào cuối tháng 12/2023.
Hoàng Thế Thỏa (Nguồn: BIS tháng 10/2024)