Ngày 07/10/2024, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố báo cáo cập nhật về triển vọng kinh tế các nước đang phát triển tại khu vực Đông Á - Thái Bình Dương (EAP).
Theo đó, mặc dù tăng thấp hơn so với trước đại dịch, nhưng EAP tiếp tục dẫn đầu thế giới về tốc độ tăng trưởng kinh tế với GDP năm 2024 dự kiến sẽ tăng 4,8%. Trong đó, kinh tế Trung Quốc tăng 4,8%, và những quốc gia còn lại tăng 4,7%, lần lượt thấp hơn kết quả tăng trưởng trung bình 6,7% và 5,2% trong giai đoạn 2015-2019. Riêng kinh tế các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương dự kiến sẽ tăng 3,5% trong năm nay, cao hơn kết quả tăng trưởng trung bình 3,1% trong giai đoạn 2015-2019.
Dự báo tăng trưởng kinh tế (% so năm trước)
|
Kết quả tăng trưởng và dự báo |
Dự báo (*) |
|||||||
|
2015-19 |
2020 |
2021 |
2022 |
2023 |
2024 |
2025 |
2024 |
2025 |
EAP |
6,4 |
1,2 |
7,6 |
3,4 |
5,1 |
4,8 |
4,4 |
4,5 |
4,3 |
Không tính TQ |
5,2 |
-3,8 |
2,9 |
5,8 |
4,3 |
4,7 |
4,9 |
4,6 |
4,8 |
Các quốc đảo |
3,1 |
-10,3 |
-2,8 |
9,5 |
5,7 |
3,5 |
3,4 |
3,6 |
3,3 |
Trung Quốc (TQ) |
6,7 |
2,2 |
8,4 |
3,0 |
5,2 |
4,8 |
4,3 |
4,5 |
4,3 |
Indonesia |
5,0 |
-2,1 |
3,7 |
5,3 |
5,0 |
5,0 |
5,1 |
4,9 |
5,0 |
Malaysia |
4,9 |
-5,5 |
3,3 |
8,9 |
3,6 |
4,9 |
4,5 |
4,3 |
4,4 |
Philippines |
6,6 |
-9,5 |
5,7 |
7,6 |
5,5 |
6,0 |
6,1 |
5,8 |
5,9 |
Thái Lan |
3,4 |
-6,1 |
1,6 |
2,5 |
1,9 |
2,4 |
3,0 |
2,8 |
3,0 |
Việt Nam |
7,1 |
2,9 |
2,6 |
8,1 |
5,0 |
6,1 |
6,5 |
5,5 |
6,0 |
Campuchia |
7,1 |
-3,6 |
3,1 |
5,1 |
5,0 |
5,3 |
5,5 |
5,8 |
6,1 |
Lào PDR |
6,6 |
0,5 |
2,5 |
2,7 |
3,7 |
4,1 |
3,7 |
4,0 |
4,1 |
Mông Cổ |
4,6 |
-4,4 |
1,6 |
5,0 |
7,2 |
5,3 |
6,5 |
4,8 |
6,6 |
Myanmar |
6,4 |
6,6 |
-9,0 |
-12,0 |
4,0 |
1,0 |
1,0 |
1,3 |
2,0 |
Papua New Guinea |
4,0 |
-3,2 |
-0,8 |
5,2 |
2,7 |
4,6 |
3,7 |
4,8 |
3,6 |
Timor-Leste |
5,1 |
-8,3 |
2,9 |
4,0 |
2,3 |
3,0 |
3,5 |
3,6 |
4,5 |
Palau |
1,7 |
-9,1 |
-13,4 |
0,0 |
0,2 |
12,0 |
11,0 |
12,4 |
11,9 |
Fiji |
3,1 |
-17,0 |
-4,9 |
20,0 |
8,0 |
3,1 |
3,3 |
3,5 |
3,3 |
Quần đảo Solomon |
3,0 |
-3,3 |
2,6 |
2,3 |
3,0 |
2,5 |
2,9 |
2,8 |
3,1 |
Tuvalu |
6,7 |
-4,3 |
1,8 |
0,7 |
3,9 |
3,5 |
3,0 |
3,5 |
2,4 |
Quần đảo Marshall |
4,8 |
-1,8 |
1,0 |
-0,6 |
3,0 |
3,4 |
4,0 |
3,0 |
2,0 |
Vanuatu |
3,5 |
-5,0 |
-1,6 |
1,9 |
2,2 |
0,9 |
1,5 |
3,7 |
3,5 |
Kiribati |
5,8 |
-0,6 |
8,5 |
3,9 |
4,2 |
5,8 |
4,1 |
5,6 |
2,0 |
Tonga |
2,4 |
0,5 |
-1,3 |
0,1 |
2,0 |
1,8 |
2,4 |
2,5 |
2,2 |
Samoa |
3,4 |
-3,1 |
-7,1 |
-5,3 |
8,0 |
10,5 |
5,5 |
4,5 |
3,6 |
Micronesia |
2,0 |
-1,8 |
-3,2 |
-1,4 |
0,4 |
1,1 |
1,7 |
1,1 |
1,7 |
Nauru |
1,8 |
0,7 |
7,2 |
2,8 |
0,6 |
1,8 |
2,0 |
1,4 |
1,2 |
Nguồn: WB tháng 10/2024
Sau đó, kinh tế EAP sẽ giảm tốc xuống mức tăng 4,4% vào năm 2025. Trong đó, kinh tế Trung Quốc tăng 4,3%, thấp hơn mức tăng 4,9% tại những quốc gia còn lại. Tăng trưởng kinh tế tại Trung Quốc tiếp tục bị ảnh hưởng bởi những rối loạn triền miên trên thị trường bất động sản, niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp sụt giảm, dân số già hóa và căng thẳng địa chính trị. Một số giải pháp hỗ trợ tài khóa gần đây có thể thúc đẩy GDP ngắn hạn, nhưng triển vọng GDP dài hạn đòi hỏi phải tăng cường các nỗ lực cải cách cơ cấu. Đối với những quốc gia còn lại, xu hướng phục hồi thương mại toàn cầu và điều kiện tài chính nới lỏng được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong năm 2025, kinh tế các quốc đảo ngoài khơi Thái Bình Dương dự kiến sẽ giảm nhẹ xuống mức tăng trưởng 3,4%, khi xu hướng phục hồi kinh tế sau đại dịch đang chững lại.
Tại EAP, tỷ lệ đói nghèo tiếp tục giảm sâu. Nếu tính theo chuẩn nghèo áp dụng đối với các nước thu nhập trung bình cao (6,85 USD/ngày, tính theo sức mua tương đương năm 2017), khoảng 29 triệu người tại EAP sẽ thoát nghèo trong năm 2023-2024.
Tại các quốc gia hàng đầu EAP, tiêu dùng tư nhân ghi nhận xu hướng tăng trưởng bền vững, nhưng mức đóng góp giảm dần tại Trung Quốc, Philippines và Thái Lan. Công nghiệp chế tạo đang hỗ trợ hoạt động xuất khẩu của Malysia, nhưng chỉ hỗ trợ khiêm tốn cho Indonesia và Thái Lan. Xuất khẩu dịch vụ đã góp phần thúc đẩy kinh tế Malaysia, Philippines, Thái Lan. Đầu tư công cũng thúc đẩy kinh tế Trung Quốc, Indonesia, Malaysia và Philippines, trong khi đầu tư tư nhân và xuất khẩu hàng hóa vẫn yếu ớt tại hầu hết các nước EAP.
Chi tiêu dùng đóng góp phần nào cho tăng trưởng kinh tế EAP, nhưng giảm dần theo thời gian, thể hiện qua tốc độ tăng chậm dần và doanh thu bán lẻ thấp hơn so với trước đại dịch, nhất là tại Indonesia và Philippines. Tại EAP, tăng trưởng nhập khẩu cũng giảm dần trong hai thập niên qua, trong khi niềm tin của người tiêu dùng khá yếu ớt. Tại Trung Quốc, chi tiêu dùng giảm sâu, một mặt là do lương và thu nhập tăng thấp, bất động sản trầm lắng, giá trị tài sản giảm theo giá bất động sản, mặt khác là do tỷ lệ tiết kiệm khá cao và mạng lưới an sinh xã hội còn hạn chế.
Trong hai thập niên qua, hoạt động đầu tư bắt đầu giảm tốc tại hầu hết các nước EAP, điển hình là tại Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, và gần đây là trường hợp Philippines. Tại Trung Quốc, khó khăn trên thị trường bất động sản đã cản trở hoạt động đầu tư, riêng đầu tư vào công nghiệp chế tạo vẫn tiếp tục hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trái lại, hoạt động đầu tư có vẻ tăng vững tại Việt Nam.
Sau khi thu hẹp trong năm 2023, xuất khẩu hàng hóa bắt đầu phục hồi dần và đạt tốc độ tăng trưởng dương trong năm 2024, mặc dù tăng chậm hơn so với kỳ vọng. Hoạt động du lịch phục hồi đã góp phần thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ tại một số quốc gia EAP, nhưng lượng khách du lịch quốc tế chỉ tăng cao hơn mức trước đại dịch tại một vài quốc gia.
Trong 7 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc tăng 4,0% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là nhờ khu vực công nghiệp ô tô và máy móc, cũng như xu hướng gia tăng chu kỳ công nghệ toàn cầu, tập trung vào các nước ASEAN. Trong năm 2023, các nước ASEAN đã vượt Mỹ và trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Trung Quốc, trong bối cảnh căng thẳng thương mại Mỹ - Trung Quốc tiếp tục leo thang. Do tiêu dùng và đầu tư trầm lắng, nhập khẩu hàng hóa vào Trung Quốc trong 7 tháng đầu năm 2024 chỉ tăng 2,8% so với cùng kỳ năm trước.
Đối với các nước EAP, lạm phát trong nước ở mức thấp và mặt bằng lãi suất giảm dần trên toàn cầu đã tạo dư địa đáng kể cho chính sách tiền tệ. Tại hầu hết các nước EAP, lạm phát được kiềm chế ở mức thấp, thậm chí giảm sâu tại Campuchia, Trung Quốc, và Thái Lan, khi giá cả hàng hóa tương đối ổn định và căng thẳng nguồn cung hạ nhiệt. Riêng lạm phát tại Lào, Myanmar và một số quốc đảo vẫn tăng cao, phản ánh xu hướng tăng giá một số mặt hàng chủ chốt như gạo, tình trạng phụ thuộc nặng nề vào nhập khẩu và đồng bản tệ lao dốc. Hiện nay, mặt bằng lãi suất tại các nước phát triển đã giảm đáng kể theo xu hướng giảm lạm phát, nhưng vẫn cao hơn trước đại dịch.
Khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ bắt đầu thắt chặt chính sách tiền tệ, dòng vốn ra tăng cao tại Trung Quốc, Indonesia, và Malaysia. Đầu năm nay, đồng bản tệ của tất cả các nền kinh tế chủ chốt đều mất giá, nguyên nhân là do mặt bằng lãi suất tại Mỹ tăng cao hơn kỳ vọng. Đồng bản tệ của Lào lao dốc mạnh, nguyên nhân là do nền tảng kinh tế vĩ mô mất cân đối trầm trọng. Từ đầu tháng 8/2024, các đồng bản tệ châu Á bắt đầu tăng giá trở lại, phản ánh kỳ vọng về xu hướng giảm lãi suất tại các nước phát triển.
Tại hầu hết các nước EAP, tỷ trọng nợ công so với GDP tăng cao hơn thời kỳ trước đại dịch, ngoại trừ trường hợp Việt Nam và Mông Cổ. Xu hướng gia tăng nợ công bắt đầu hình thành sau khủng hoảng tài chính toàn cầu (khi điều kiện tài chính nới lỏng), và thâm hụt ngân sách tăng cao trong thời kỳ đại dịch. Tương tự, nợ tư nhân cũng tăng cao tại các nền kinh tế chủ chốt EAP. Tại Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan, tỷ trọng nợ doanh nghiệp so với GDP lần lượt tăng 30%, 20% và 40%. Đến năm 2024, nợ của các doanh nghiệp phi tài chính tại Trung Quốc và Việt Nam đã vượt tỷ trọng nợ tại hầu hết các nước đang phát triển khác. So với mặt bằng nợ tại các nền kinh tế mới nổi khác, nợ các hộ gia đình và doanh nghiệp tài chính tại Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan đã tăng quá cao, cản trở tiêu dùng và đầu tư.
Tại hầu hết các nước EAP, thanh toán lãi suất nợ nước ngoài tăng đáng kể trong năm 2023, cao nhất là Lào và Mông Cổ. Tại Lào, thanh toán lãi vay phải trả Trung Quốc vào khoảng 165 triệu USD (1,1% GDP) trong năm 2023, nhưng được hoãn lại do khó khăn nợ nần. Gia hạn nợ sẽ góp phần giảm áp lực tài chính ngắn hạn, nhưng gây mối lo ngại về sau do những vấn đề liên quan đến điều khoản trả nợ và tùy thuộc vào kết quả đàm phán gia hạn nợ. Thanh toán lãi suất tăng cao sẽ hạn chế dư địa tài khóa, cản trở đầu tư công và tư. Thanh toán lãi vay nước ngoài của khu vực tư nhân tại Campuchia, Fiji, Thái Lan, Việt Nam cũng chứng kiến xu hướng tăng rõ rệt.
Theo dự báo, GDP tại hầu hết các nước EAP được kỳ vọng sẽ tăng vững trong năm 2024, chủ yếu nhờ tiêu dùng tư nhân và môi trường bên ngoài thuận lợi. Kinh tế EAP năm 2024 được dự báo tăng 4,8%, thấp hơn kết quả tăng 5,1% trong năm 2023. Tại Trung Quốc, GDP năm 2024 dự kiến tăng 4,8% (thấp hơn kết quả tăng 5,2% trong năm 2023), khi các giải pháp phục hồi tiêu dùng và xuất khẩu không còn phát huy tác dụng, thị trường lao động yếu ớt, lĩnh vực bất động sản tiếp tục đối mặt với nhiều khó khăn.
Tại những nước khác trong khu vực, GDP năm 2024 dự báo tăng 4,7%, cao hơn kết quả tăng 4,3% trong năm trước, chủ yếu nhờ tiêu dùng trong nước tăng cao, xuất khẩu hàng hóa phục hồi, hoạt động du lịch sôi động trở lại. Tuy nhiên, nhu cầu tiêu dùng trong nước có dấu hiệu suy giảm, nhất là tại Indonesia, Thái Lan và Philippines, trong khi đầu tư tư nhân tại EAP vẫn yếu ớt.
Trong năm 2025, GDP tại EAP sẽ giảm tốc xuống mức tăng trưởng 4,4%. Trong đó, GDP tại Trung Quốc sẽ giảm xuống mức tăng 4,3%, do phải đối mặt với khó khăn triền miên trong lĩnh vực bất động sản, niềm tin của người tiêu dùng và doanh nghiệp còn thấp, thách thức bắt nguồn từ xu hướng già hóa dân số và căng thẳng địa chính trị. Tại những nước khác trong khu vực, GDP năm 2025 dự báo tăng 4,9%, chủ yếu nhờ thương mại toàn cầu tiếp tục phục hồi và xu hướng bình thường hóa lãi suất tại các nước phát triển.
Mặc dù tăng vững, nhưng triển vọng kinh tế vẫn đối mặt với rủi ro tăng trưởng thấp, bao gồm kinh tế toàn cầu giảm tốc và lạm phát tại các nước phát triển giảm chậm hơn so với kỳ vọng sẽ tiếp tục thắt chặt điều kiện tài chính toàn cầu. Tại Trung Quốc, tình trạng chi tiêu dùng yếu ớt có khả năng sẽ kéo dài, cản trở các giải pháp mở rộng chi tiêu và đầu tư, trong bối cảnh khó khăn vẫn bao trùm lĩnh vực bất động sản.
Nếu kinh tế Trung Quốc tăng chậm hơn so với kỳ vọng, các nước còn lại tại EAP sẽ bị ảnh hưởng, chủ yếu thông qua các kênh thương mại. Từ đầu những năm 2000, Trung Quốc là điểm đến quan trọng hàng đầu của hoạt động xuất khẩu từ các nước trong khu vực, nhất là Malaysia, Thái Lan, Việt Nam và Lào. Các nước Mông Cổ, Lào, Quần đảo Solomon và Myanmar cũng đối mặt với rủi ro, do Trung Quốc là điểm đến của xuất khẩu nguyên vật liệu xây dựng và là nguồn cung cấp vốn FDI quan trọng đối với những quốc gia này.
Một số nước trong khu vực (bao gồm Campuchia, Malaysia, Philippines, Thái Lan và Việt Nam) cũng đối mặt với rủi ro thông qua các mối liên kết thương mại và hoạt động kinh tế với Mỹ và Liên minh châu Âu (EU). Nếu kinh tế Mỹ và EU giảm tốc, nhu cầu tại những quốc gia đối tác này sẽ sụt giảm, ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu từ EAP. Ngoài ra, EAP cũng phải đối mặt với những rủi ro bắt nguồn từ điều kiện tài chính toàn cầu, căng thẳng địa chính trị, và biến đổi khí hậu toàn cầu.
Vũ Xuân Thanh (Nguồn: WB tháng 10/2024)