Sau đại dịch Covid-19, nền kinh tế toàn cầu bước vào một giai đoạn đầy biến động với mức lạm phát tăng cao nhất trong vòng hai thập kỷ qua. Các quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với cơn bão lạm phát, bắt nguồn từ hàng loạt yếu tố như cú sốc giá năng lượng, sự tăng giá mạnh của đồng USD, và sự thay đổi trong hành vi tiêu dùng khi nền kinh tế mở cửa trở lại. Thêm vào đó, các chính sách tài khóa và tiền tệ nới lỏng được áp dụng trong thời kỳ đại dịch đã kích thích nhu cầu tiêu dùng, làm trầm trọng thêm áp lực lạm phát toàn cầu.
Giai đoạn lạm phát hiện nay nhìn từ góc độ lịch sử
Giai đoạn lạm phát tăng cao hiện tại có sự khác biệt. Kể từ giữa những năm 1980, lạm phát nhìn chung ổn định ở các nền kinh tế phát triển. Lạm phát chỉ tăng khoảng 4.0 điểm phần trăm trong một số thời điểm và quay trở lại mức ban đầu trong một đến hai năm sau đó. Trong giai đoạn hiện tại, lạm phát ở các nước OECD đã tăng gần gấp đôi so với trước và duy trì ở mức cao bất ngờ sau khi tăng mạnh.
Ở một số khía cạnh, giai đoạn lạm phát cao hiện tại tương tự những gì diễn ra trong những năm 1970, thời kỳ cũng chứng kiến những đợt lạm phát tăng mạnh do giá năng lượng tăng cao và nới lỏng các chính sách. Thập niên 1970 cũng chứng kiến nhiều nỗ lực kéo giảm lạm phát thất bại. Tính trung bình, lạm phát giảm ít hơn so với mức tăng, được giữ ổn định ở mức cao hơn so với thời điểm trước khi bắt đầu tăng. Điều này có thể do nhiều nền kinh tế chuyển sang chế độ lạm phát cao. Theo đó, lạm phát ban đầu là một sự kiện bất ngờ, nhưng việc lạm phát kéo dài dai dẳng khiến các hộ gia đình và doanh nghiệp coi đó là một đặc điểm phổ biến. Bên cạnh đó, các chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng cho đến cuối thập niên 1970 khiến nỗ lực giảm lạm phát trở nên khó khăn và tốn kém.
Sau giai đoạn lạm phát tăng cao những năm 1970, hầu hết các NHTW chuyển sang áp dụng các khuôn khổ tập trung trực tiếp vào ổn định giá cả. Điều này trùng hợp với một thời kỳ đạt được những kết quả tích cực ở hầu hết các nền kinh tế phát triển và ngày càng nhiều nền kinh tế mới nổi. Mặc dù các khuôn khổ chính sách tiền tệ mới này không thể ngăn chặn các sự kiện cực đoan như chiến tranh hoặc đại dịch tạm thời làm tăng lạm phát, việc tập trung vào ổn định giá cả có thể củng cố độ tin cậy của nguyên tắc lạm phát thấp, từ đó buộc các hành vi ấn định tiền lương và giá cả phải phù hợp với mức lạm phát thấp và lạm phát ổn định trong trung hạn.
Lạm phát từ góc nhìn “hai chế độ”
Quan điểm “hai chế độ” lạm phát thừa nhận rằng các nền kinh tế có thể chuyển từ chế độ lạm phát thấp sang chế độ lạm phát cao. Trong chế độ lạm phát thấp, lạm phát ổn định và có thể dự đoán, và thường được neo giữ bởi chính sách tiền tệ đáng tin cậy. Lạm phát được thúc đẩy bởi sự thay đổi giá trong từng ngành cụ thể, có mối tương quan lỏng lẻo và chỉ tác động tạm thời đến lạm phát chung. Mối liên kết giữa tiền lương và giá cả lỏng lẻo, dẫn đến tỷ lệ lạm phát có xu hướng tự ổn định. Các NHTW có sự linh hoạt lớn hơn và có thể chấp nhận việc lạm phát chệch khỏi mục tiêu ở mức độ vừa phải do tính chất tự ổn định của lạm phát.
Trong khi đó, chế độ lạm phát cao được đặc trưng bởi lạm phát dai dẳng và biến động, thường do kỳ vọng lạm phát không được kiểm soát và các chính sách tài khóa và tiền tệ lỏng lẻo. Lạm phát diễn ra đồng loạt trong các ngành, khiến nó nhạy cảm hơn với những thay đổi về giá cả các mặt hàng quan trọng như thực phẩm và năng lượng. Tiền lương và giá cả có mối liên kết chặt chẽ với nhau, tạo ra một vòng phản hồi có thể khiến lạm phát kéo dài. Vì vậy, lạm phát trong cơ chế này không tự ổn định mà tự cố định, trở nên khó kiểm soát một khi bắt đầu tăng.
Quá trình chuyển đổi giữa chế độ lạm phát thấp và chế độ lạm phát cao có thể mang tính tự tăng cường do sự chú ý ngày càng tăng từ các tác nhân kinh tế và sự thay đổi giá cả đồng loạt. Một khi lạm phát bắt đầu tăng, nó có thể dẫn đến vòng xoáy giá lương, khiến lạm phát neo giữ ở mức cao. Cơ chế tự củng cố giữa chế độ lạm phát thấp và lạm phát cao bao gồm một số yếu tố chính:
- Thay đổi hành vi: Trong chế độ lạm phát thấp, lạm phát hầu như không được các tác nhân kinh tế chú ý, dẫn đến môi trường tự ổn định, quan hệ nhân quả giữa giá cả và tiền lương không chặt chẽ. Khi lạm phát tăng lên, nó nhận được nhiều sự chú ý hơn từ các tác nhân kinh tế, dẫn đến sự thay đổi giá cả đồng loạt và đòi hỏi phải có thêm những nỗ lực nhằm duy trì tỷ suất lợi nhuận và mức sống.
- Vòng xoáy tiền lương - giá cả: Trong chế độ lạm phát cao, mối liên kết chặt chẽ giữa tiền lương và giá cả tạo ra một vòng phản hồi mang tính nhân quả. Vòng phản hồi này là động lực chính dẫn đến lạm phát kéo dài và gây khó khăn cho việc kéo giảm lạm phát.
- Phản ứng chính sách tiền tệ: Chính sách tiền tệ hiệu quả có thể giúp ngăn chặn quá trình chuyển đổi sang chế độ lạm phát cao bằng cách đảm bảo uy tín và ứng phó kịp thời với áp lực lạm phát. Một khi ở trong chế độ lạm phát cao, chính sách tiền tệ phải tập trung vào việc thắt chặt để giảm lạm phát, nhưng điều này ngày càng trở nên khó khăn khi lạm phát ngày càng trở nên khó kiểm soát.
Rủi ro lạm phát do chính sách tài khóa tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển
Đại dịch COVID-19 được đặc trưng bởi việc triển khai gói kích thích tài khóa quy mô lớn ở nhiều nền kinh tế phát triển (AE) và mới nổi và đang phát triển (EMDE). Mở rộng tài khóa góp phần làm tăng tổng cầu trong nước, dẫn đến lạm phát gia tăng theo đường cong Phillips chuẩn. So với các AE, thâm hụt tài khóa tác động lớn hơn đến lạm phát ở các EMDE. Ước tính bình quân tại các EMDE, thâm hụt tài khóa tăng 1,0 điểm phần trăm khiến lạm phát tăng 2,5 điểm phần trăm một năm sau đó. Trong khi ở các AE, thâm hụt tài khóa tăng 1,0 điểm phần trăm chỉ làm lạm phát tăng dưới 0,1 điểm phần trăm.
Trong khi giá hàng hóa không có mối quan hệ chặt chẽ về mặt thống kê với lạm phát, tỷ giá hối đoái có vai trò quan trọng và có lẽ là kênh truyền dẫn quan trọng nhất giữa thâm hụt tài khóa và lạm phát. Về mặt lý thuyết, việc mở rộng tài khóa thường dẫn đến đồng nội tệ tăng giá, giúp bù đắp một phần tác động lạm phát của việc tăng trưởng kinh tế giảm nhẹ. Tuy nhiên, việc mở rộng tài khóa được dự báo sẽ làm xấu đi đáng kể các tài khoản tài khóa có thể dẫn đến sự xói mòn niềm tin của các nhà đầu tư và sự mất giá của đồng tiền và khuếch đại phản ứng lạm phát ban đầu. Việc tỷ giá giảm do tác động của thâm hụt gia tăng diễn ra rõ rệt hơn ở các EMDE, làm tăng tác động lạm phát. Trung bình, thâm hụt tài khóa tăng 1,0 điểm phần trăm sẽ khiến tỷ giá giảm 0,8% sau một năm.
Bên cạnh giá hối đoái, rủi ro quốc gia cũng là một kênh quan trọng khác trong việc phóng đại phản ứng lạm phát ban đầu. Đối với các EMDE, việc mở rộng tài khóa có thể dẫn đến mất niềm tin của các tác nhân kinh tế và làm tăng rủi ro quốc gia được đo bằng chênh lệch CDS. Theo đó, mức thâm hụt tài khóa tăng 1,0 điểm phần trăm khiến chênh lệch CDS quốc gia kỳ hạn 5 năm tăng khoảng 25 điểm cơ bản (0,25 điểm phần trăm). Hơn nữa, xếp hạng nợ bằng nội tệ của một nước suy giảm khi thâm hụt tài khóa tăng lên. Về cơ cấu nợ quốc gia, nợ bằng ngoại tệ hoặc nợ do nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ chiếm tỷ trọng lớn làm tăng tác động bất lợi lên lạm phát và tỷ giá. Khủng hoảng nợ nếu xảy ra sẽ làm tăng lạm phát và sau đó là dự báo lạm phát.
Môi trường lạm phát cao hiện nay nêu bật vai trò quan trọng của khuôn khổ chính sách tiền tệ lạm phát mục tiêu. Cơ chế lạm phát mục tiêu giảm thiểu đáng kể tác động của thâm hụt tài khóa tới lạm phát. Cơ chế này cũng làm giảm tác động của việc đồng nội tệ giảm giá tới tỷ giá hối đoái, do đó làm suy yếu tác động của kênh đối ngoại đối với lạm phát. Ngoài ra, tăng cường ổn định tỷ giá và mở cửa tài khoản vốn cũng làm giảm tác động của thâm hụt tài khóa tới lạm phát.
Trong giai đoạn lạm phát cao hiện nay, việc không thắt chặt chính sách tiền tệ có thể khiến tổng cầu tăng đến mức không bền vững, dẫn đến suy thoái kinh tế đáng kể khi các NHTW cuối cùng phải thực hiện các bước để khôi phục ổn định giá cả. Mặc dù việc NHTW thắt chặt chính sách tiền tệ chưa chắc có thể bù đắp được áp lực lạm phát ban đầu, cam kết này có thể hạn chế tác động lan truyền của việc tăng giá ban đầu tới các hạng mục cốt lõi của giỏ lạm phát và đảm bảo quá trình giảm lạm phát sau đó diễn ra suôn sẻ. Vì vậy, độ tín nhiệm của NHTW là rất quan trọng. Điều này đòi hỏi phải thiết lập lãi suất chính sách nhất quán với mục tiêu ổn định giá cả của NHTW.
Kết luận
Trong bối cảnh lạm phát cao, điều quan trọng là phải hiểu rõ cơ chế chuyển dịch khiến lạm phát tăng mạnh và duy trì ở mức cao. Đây là cơ chế tự củng cố với sự tác động của sự thay đổi hành vi của các tác nhân kinh tế và vòng xoáy tiền lương - giá cả. Đối với nhiều EMDE, lạm phát trong nước chịu tác động của kênh đối ngoại, là tỷ giá hối đoái và nợ nước ngoài của quốc gia. Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý cần phép linh hoạt tỷ giá để thâm hụt tài khóa không tác động mạnh tới lạm phát, đồng thời giữ nợ nước ngoài ở một ngưỡng nhất định. Để giải quyết tình trạng lạm phát cao kỷ lục hiện nay, các NHTW cần kiên trì thực hiện cơ chế lạm phát mục tiêu với cam kết mạnh mẽ đưa lạm phát về mức mục tiêu. Để làm được việc này, các NHTW cần đảm bảo uy tín của mình.
Thùy Linh (Vụ HTQT)