Ngày 31/10/2024, Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) công bố báo cáo cập nhật về các chỉ số thanh khoản toàn cầu tính đến cuối tháng 6/2024. Các chỉ số thanh khoản toàn cầu (GLIs) của BIS ghi chép tổng lượng tín dụng đối với khách hàng phi ngân hàng, bao gồm tín dụng ngân hàng và cho vay phát hành chứng khoán trên thị trường trái phiếu quốc tế, tập trung vào ba đồng tiền chủ chốt là USD, EUR và JPY.
Theo đó, tín dụng ngân hàng qua biên giới tăng 36 tỷ USD tương đương 6% so với cùng kỳ năm trước, chủ yếu là nhờ cho vay đối với khách hàng phi ngân hàng tăng cao. Trong đó, tín dụng đối với các nước phát triển (AEs) tăng 6%, tín dụng đối với các nước đang phát triển và mới nổi (EMDEs) giảm 3%. Tín dụng CNY (Tín dụng quốc tế bằng đồng Nhân dân Tệ) tăng cao tại các nước mới nổi châu Á - Thái Bình Dương, đặc biệt đối với các nước phát triển và mới nổi (EMDEs) ghi nhận ba quý tăng liên tiếp, khi tăng tới 23 tỷ USD trong quý II/2024, tăng 3% so với cùng kỳ năm trước, đưa tổng dư nợ lên gần 240 tỷ USD (tính từ đầu năm 2022).
Nguyên nhân dẫn đến xu hướng mở rộng tín dụng CNY xuyên biên giới chủ yếu là do tín dụng CNY tăng cao trên thị trường quốc tế, chủ yêu thông qua cho vay đối với khách hàng tại Hàn Quốc, Malaysia và Singapore. Dù vậy hoạt động này vẫn tập trung chủ yếu vào cho vay nội địa Trung Quốc, trong đó, tín dụng CNY xuyên biên giới đối với khách hàng tại Trung Quốc và tín dụng quốc tế đối với Hồng Kông và Macao chạm ngưỡng 550 tỷ USD trong quý II/2024.
Các ngân hàng tại Trung Quốc chiếm tỷ trọng áp đảo trong hoạt động cho vay CNY xuyên biên giới, nhưng giao dịch CNY bên ngoài quốc gia này, bao gồm cho vay CNY giữa các ngân hàng & cho vay CNY đối với khách hàng bên ngoài Trung Quốc vẫn hạn chế với mức tăng thấp.
Tuy nhiên, kết quả tăng trưởng tín dụng trong quý II/2024 bắt nguồn chủ yếu từ cho vay đối với các định chế tài chính phi ngân hàng (NBFIs) hơn là nhóm khách hàng thuộc khu vực phi tài chính (giảm 21 tỷ USD) so với cùng kỳ năm trước. Trong quý II/2024, tín dụng của các ngân hàng Nhật Bản giảm kỷ lục 110 tỷ USD, nhưng chỉ được bù đắp phần nào từ nỗ lực mở rộng cho vay của các ngân hàng tại CH Pháp, VQ Anh và Canada.
Tín dụng USD giảm từ đầu năm 2022, riêng trong quý II/2024 đã giảm 78 tỷ USD khi Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) bắt đầu chu kỳ thắt chặt tiền tệ. Từ đầu năm 2022 đến quý II/2024, tín dụng USD đối với Trung Quốc giảm tổng cộng 80 tỷ USD, giảm tổng cộng 200 tỷ USD đối với hàng tại Hồng Kông và Macao.
Trong quý II/2024, tín dụng toàn cầu dưới dạng USD và JPY tăng nhẹ, khi tín dụng USD đối với khách hàng phi ngân hàng bên ngoài nước Mỹ tăng 87 tỷ USD và tín dụng JPY đối với khách hàng phi ngân hàng bên ngoài Nhật Bản tăng 400 tỷ USD (tăng 14% so với cùng kỳ năm trước). Trong khi đó, tín dụng EUR đối với khách hàng phi ngân hàng bên ngoài khu vực euro giảm, nhưng vẫn tăng 5% so với cùng kỳ năm trước.
Cho vay USD đối với các nền kinh tế EMDEs giảm 45 tỷ USD đã đưa đưa tổng dư nợ xuống 5,1 nghìn tỷ USD, thể hiện rõ nhất tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương – trái với xu hướng mở rộng tín dụng toàn cầu. Những nỗ lực mở rộng cho vay đối với EMDEs tại những khu vực khác không bù đắp được mức sụt giảm này.
Mức độ tăng trưởng tín dụng khác biệt giữa tín dụng ngân hàng và cho vay phát hành chứng khoán được ghi nhận trong diễn biến tín dụng USD và EUR cũng ảnh hưởng đến xu hướng giảm tín dụng. Từ trước đại dịch (2018), tín dụng ngân hàng giảm trong khi cho vay phát hành chứng khoán tăn, thời gian gần đây đã có dấu hiệu phục hồi. Đối với JPY, kể từ 2022, xu hướng mở rộng cho vay JPY cũng tăng do đồng tiền mất giá và mặt bằng lãi suất thấp.