Ngày 17/3/2025, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) công bố báo cáo giữa kỳ về triển vọng kinh tế toàn cầu với nhận định, mặc dù vẫn tăng vững trong năm 2024, nhưng kinh tế toàn cầu sẽ giảm dần do chính sách thuế mới sẽ cản trở các hoạt động thương mại, thị trường giá cả, tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng kinh tế nói chung.
Theo đó, kinh tế toàn cầu tiếp tục bền vững trong năm 2024 và mở rộng trong sáu tháng cuối năm 2024 lên mức tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, thu nhập thực tế tăng cao và lãi suất thấp là hai yếu tố hỗ trợ cơ bản. Tại Mỹ, tiêu dùng trong nước tiếp tục tăng vững cho tới cuối năm 2024, nhờ tiêu dùng tư nhân tăng cao. Kinh tế khu vực đồng euro tương đối ổn định, mặc dù giảm nhẹ tại Cộng hòa Pháp (CH Pháp) và Cộng hòa Liên bang Đức (CHLB Đức) trong quý IV/2024 do xuất khẩu sụt giảm. Kinh tế Nhật Bản vẫn bền vững, mặc dù phải đối mặt với chính sách tài khóa và tiền tệ thắt chặt. Tại các nước mới nổi (EMEs), tăng trưởng kinh tế không đồng đều, nhưng tăng vững trong quý IV/2024 tại nhiều nước. Kinh tế chứng kiến xu hướng giảm tốc cho đến cuối năm tại Mêhicô, nhưng tiếp tục tăng cao tại Brazil và Ấn Độ, kinh tế Argentina cải thiện dần và đang thoát dần khỏi suy thoái. Nhờ các giải pháp khuyến khích chi tiêu dùng và xuất khẩu tăng nhanh, tình hình kinh tế tại Trung Quốc cũng cải thiện rõ rệt.
Kinh tế toàn cầu giảm nhẹ (% so năm trước)
|
2024 |
2025 |
2026 |
||
|
Thực tế |
Dự báo |
Thay đổi (1) |
Dự báo |
Thay đổi (1) |
Toàn cầu |
3,2 |
3,1 |
-0,2 |
3,0 |
-0,3 |
Các nước G20 |
3,3 |
3,1 |
-0,2 |
2,9 |
-0,3 |
Australia |
1,1 |
1,9 |
0,0 |
1,8 |
-0,7 |
Canada |
1,5 |
0,7 |
-1,3 |
0,7 |
-1,3 |
Khu vực đồng euro |
0,7 |
1,0 |
-0,3 |
1,2 |
-0,3 |
CHLB Đức |
-0,2 |
0,4 |
-0,3 |
1,1 |
-0,1 |
CH Pháp |
1,1 |
0,8 |
-0,1 |
1,0 |
0,0 |
Itay |
0,7 |
0,7 |
-0,2 |
0,9 |
-0,3 |
Tây Ban Nha |
3,2 |
2,6 |
0,3 |
2,1 |
0,1 |
Nhật Bản |
0,1 |
1,1 |
-0,4 |
0,2 |
-0,4 |
Hàn Quốc |
2,1 |
1,5 |
-0,6 |
2,2 |
0,1 |
Mêhicô |
1,5 |
-1,3 |
-2,5 |
-0,6 |
-2,2 |
Thổ Nhĩ Kỳ |
3,2 |
3,1 |
0,5 |
3,9 |
-0,1 |
Vương quốc Anh |
0,9 |
1,4 |
-0,3 |
1,2 |
-0,1 |
Mỹ |
2,8 |
2,2 |
-0,2 |
1,6 |
-0,5 |
Argentina |
-1,8 |
5,7 |
2,1 |
4,8 |
1,0 |
Brazil |
3,4 |
2,1 |
-0,2 |
1,4 |
-0,5 |
Trung Quốc |
5,0 |
4,8 |
0,1 |
4,4 |
0,0 |
Ấn Độ (2) |
6,3 |
6,4 |
-0,5 |
6,6 |
-0,2 |
Indonesia |
5,0 |
4,9 |
-0,3 |
5,0 |
-0,1 |
Cộng hòa Liên bang Nga |
4,1 |
1,3 |
0,2 |
0,9 |
0,0 |
Arập Xê út |
1,2 |
3,8 |
0,2 |
3,6 |
-0,2 |
Cộng hòa Nam Phi (CH Nam Phi) |
0,6 |
1,6 |
0,1 |
1,7 |
0,0 |
Nguồn: OECD tháng 03/2025
Mặc dù giảm nhẹ trong quý cuối năm, nhưng thương mại toàn cầu phục hồi mạnh trong năm 2024. Trong tháng 01/2025, nhập khẩu hàng hóa vào Mỹ tiếp tục bùng phát. Các mô hình thương mại gần đây (nhất là giữa châu Á và Bắc Mỹ) bị tác động bởi sự cần thiết phải quản lý rủi ro liên quan đến những khó khăn trong hoạt động vận tải đường thủy vào thời điểm căng thẳng, thời gian vận chuyển kéo dài và nguy cơ áp thuế tiềm tàng. Do bất ổn tăng cao, hoạt động thương mại có xu hướng chững lại.
Trong những tháng gần đây, bất ổn chính sách thương mại tăng rõ rệt, khi nhiều nước đưa ra những rào cản thương mại mới. Trong số này, Canada và Mêhicô là hai quốc gia đối mặt với mức độ tổn thương cao nhất, khi Mỹ áp đặt mức thuế cao nhất đối với hàng nhập khẩu từ hai quốc gia này. Bất ổn chính sách sẽ cản trở các quyết định chi tiêu của các doanh nghiệp và hộ gia đình, nhất là về các khoản chi tiêu dài hạn như đầu tư tài sản cố định và hàng hóa lâu bền.
Các biện pháp thương mại gần đây sẽ ảnh hưởng đến triển vọng kinh tế và khó xác định cụ thể, do các bên liên quan có thể trả đũa quyết liệt. Cho tới nay, Mỹ đã tăng thuế đối với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc thêm 20% và tăng thuế đối với nhôm, thép nhập khẩu từ tất cả các quốc gia trên thế giới. Mỹ cũng thông báo sẽ tăng thuế 25% đối với hàng hóa nhập khẩu từ Canada và Mêhicô, đồng thời giảm 10% thuế nhập khẩu các sản phẩm năng lượng từ Canada, kali từ Canada và Mêhicô. Gần đây, mức thuế cao này chỉ áp dụng đối với hàng hóa không tuân thủ Hiệp định Thương mại Mỹ - Canada - Mêhicô, nhưng sẽ áp đặt đối với toàn bộ hàng hóa nhập khẩu từ hai quốc gia này từ đầu tháng 4/2025. Canada trả đũa bằng cách tăng thuế đối với một số mặt hàng nhập khẩu từ Mỹ và sẽ mở rộng sang những hàng hóa khác từ tháng 4/2025. Hiện tại, Mêhicô chưa thay đổi chính sách thuế, nhưng tuyên bố sẽ đáp trả tương xứng nếu phía Mỹ áp thuế như thông báo đưa ra. Do độ mở thương mại tương ở mức cao và xuất khẩu hàng hóa vào Mỹ chiếm tỷ trọng lớn, nên Canda và Mêhicô sẽ là hai quốc gia chịu thiệt hại cao nhất.
Nếu căng thẳng thương mại kéo dài, tăng thuế sẽ góp phần củng cố nguồn thu ngân sách cho các chính phủ áp đặt thuế, nhưng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn cầu, từ hoạt động kinh tế, đến thu nhập, giá cả, hoạt động kinh doanh và nguồn thu ngân sách. Trong tình hình hiện nay, các quốc gia liên quan cần bình tĩnh và tăng cường đối thoại để hạ nhiệt căng thẳng, góp phần cải thiện chính sách và triển vọng tăng trưởng kinh tế.
Thị trường lao động vẫn thắt chặt
Mặc dù tăng trưởng việc làm giảm nhẹ trong sáu tháng cuối năm 2024, nhưng thị trường lao động vẫn thuận lợi về cơ bản, tỷ lệ thất nghiệp nhìn chung thấp hơn so với trước đại dịch (thấp hơn khoảng 0,5% so với năm 2018-2019). Brazil và Thổ Nhĩ Kỳ ghi nhận tỷ lệ thất nghiệp thấp nhất, tiếp đến là các nước Nam Âu như Italya và Tây Ban Nha.
Mức lương danh nghĩa tiếp tục giảm nhẹ trong sáu tháng cuối năm 2024, nhưng vẫn cao hơn trước đại dịch, áp lực tăng lương có dấu hiệu giảm tại một số khu vực trên thế giới. Tại hầu hết các nước phát triển (AEs), tăng trưởng lương khá cao, đẩy chi phí lao động lên trên mục tiêu lạm phát của Ngân hàng Trung ương (NHTW). Cuối năm 2024, một số nước ghi nhận mức lương thực tế cao hơn trước đại dịch, bao gồm Brazil, Mỹ, Tây Ban Nha, VQ Anh, Canada. Một số nước ghi nhận mức lương thực tế thấp hơn trước đại dịch, bao gồm CH Nam Phi, Italya, CH Pháp, Nhật Bản.
Lạm phát tiếp tục giảm tại nhiều quốc gia
Tại nhiều quốc gia, áp lực lạm phát vẫn kéo dài, ngày càng nhiều nước ghi nhận lạm phát cơ bản tăng trở lại. Lạm phát giá dịch vụ vẫn tăng cao, tăng trung bình 3,6% trong tháng 01/2025 tại các quốc gia OECD. Xu hướng này dự kiến sẽ tiếp tục tăng tại Vương quốc Anh và CHLB Đức, khi chỉ số giá dịch vụ tăng cao từ tháng 12/2024. Ngoài ra, lạm phát giá hàng hóa tăng cao tại nhiều nước trong thời gian gần đây, mặc dù từ mức rất thấp, chủ yếu là do giá thực phẩm tăng cao. Trong số này phải kể đến Nhật Bản, Tây Ban Nha và Hàn Quốc. Kỳ vọng lạm phát tổng thể cũng tăng cao tại một số nước trong thời gian gần đây, bao gồm Mỹ và Vương quốc Anh. Trái lại, giá dầu có xu hướng giảm nhẹ, phản ánh quyết định của OPEC+ là sẽ giảm dần sản lượng dầu từ tháng 4/2025.
Tài chính toàn cầu vẫn khó khăn và chao đảo mạnh
Từ cuối năm 2024, điều kiện tài chính toàn cầu bị thắt chặt phần nào, và thị trường chao đảo trong thời gian gần đây. Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm tăng tại châu Âu, nhất là sau thông báo kế hoạch chi tiêu quốc phòng và hạ tầng cơ sở quy mô lớn tại CHLB Đức và các nước Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ có thiên hướng giảm từ giữa tháng 01/2025, sau khi tăng cao trong những tháng cuối năm 2024. Xu hướng giảm lợi suất trái phiếu trong thời gian gần đây báo hiệu triển vọng kinh tế yếu ớt hơn là do lạm phát kỳ vọng giảm dần. Giá USD cũng lên xuống bất thường, nhưng giảm dần so với nhiều đồng tiền khác sau khi tăng cao trong những tháng cuối năm 2024.
Cho tới nay, căng thẳng trên thị trường tài chính vẫn được kiềm chế. Tín dụng ngân hàng phục hồi dần từ mức thấp tại AEs, do tác động truyền tải của chính sách tiền tệ nới lỏng sang lãi suất cho vay. Tuy nhiên, giá cổ phần vẫn cao hơn so với tháng 11/2024, nhất là tại CHLB Đức, Tây Ban Nha và Italya. Trái phiếu doanh nghiệp và lượng trái phiếu phát hành tăng vững đã phát tín hiệu là niềm tin của doanh nghiệp đang tăng trở lại, kéo theo xu hướng chấp nhận rủi ro, lợi suất bù rủi ro giảm dần tại Mỹ, Vương quốc Anh và châu Âu.
Lạm phát tiếp tục hạ nhiệt nhưng kinh tế sẽ giảm tốc
GDP toàn cầu được dự báo sẽ giảm dần từ kết quả tăng 3,2% trong năm 2024 xuống mức tăng 3,1% vào năm 2025 và 3,0% vào năm 2026. Việc áp đặt các mức thuế mới trong quan hệ thương mại song phương cùng với bất ổn chính sách và địa chính trị liên quan sẽ xói mòn các hoạt động đầu tư và thương mại. Chi phí thương mại tăng cao sẽ từng bước ảnh hưởng đến giá cả hàng tiêu dùng cuối cùng, chất thêm áp lực tăng lạm phát tại nhiều nước và đòi hỏi phải duy trì chính sách tiền tệ thắt chặt thêm một thời gian.
Khi các mức thuế mới có hiệu lực, kinh tế Mỹ, Canada và Mêhicô sẽ tăng chậm lại, trầm trọng nhất là kinh tế Canada và Mêhicô, trong khi các giải pháp chính sách tiền tệ nới lỏng chỉ có thể bù đắp được phần nào. GDP thực tế tại Mỹ sẽ giảm dần từ kết quả tăng 2,8% trong năm 2024 xuống mức tăng 2,2% vào năm 2025 và 1,6% vào năm 2026. Tương tự, GDP tại Canada sẽ giảm dần từ kết quả tăng 1,5% trong năm 2024 xuống mức tăng 0,7% vào năm 2025 và năm 2026. Kinh tế Mêhicô sẽ lâm vào tình cảnh suy thoái với đà tăng GDP giảm sâu xuống mức tăng 1,3% vào năm 2025 và 0,6% vào năm 2026.
Bên kia đại dương, các nước châu Âu cũng bị tác động tiêu cực từ chính sách tăng thuế của chính quyền mới tại Mỹ, nhưng với mức độ thấp hơn, trong khi căng thẳng địa chính trị và bất ổn chính sách tiếp tục là trở ngại lớn nhất đối với tăng trưởng kinh tế. Kinh tế khu vực đồng euro được dự báo sẽ cải thiện từ kết quả tăng 0,7% trong năm 2024 lên mức tăng 1,0% vào năm 2025 và 1,2% vào năm 2026; GDP tại Vương quốc Anh sẽ tăng 1,4% trong năm 2025 và 1,2% trong năm 2026. Kinh tế Australia và Hàn Quốc sẽ tăng cao, nhưng thấp hơn so với kỳ vọng trước đây. Tại Nhật Bản, lợi nhuận doanh nghiệp tăng vững và thu nhập lương tăng cao được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong năm nay, GDP được dự báo sẽ từ kết quả tăng 0,1% trong năm 2024 lên mức tăng 1,1% vào năm 2025, sau đó giảm xuống mức tăng 0,2% vào năm 2026. Nếu đàm phán với Mỹ thành công và căng thẳng thương mại hạ nhiệt, kinh tế Nhật Bản có thể cải thiện nhẹ lên mức tăng 1,2% vào năm 2025 và 0,3% vào năm 2026.
Tại EMEs thuộc nhóm G20, GDP cũng sẽ giảm tốc. Kinh tế Trung Quốc được dự báo tăng 4,8% trong năm nay, sau đó giảm xuống mức tăng 4,4% vào năm 2026, do chính sách tiền tệ hỗ trợ không bù đắp được thiệt hại trong hoạt động xuất khẩu sang Mỹ.
Trên toàn cầu, lạm phát được dự báo tiếp tục giảm, nhưng chậm hơn so với kỳ vọng. Tại các nước G20, lạm phát cơ bản được dự báo giảm từ tỷ lệ 5,3% trong năm 2024 xuống 3,8% vào năm 2025 và 3,2% vào năm 2026. Tại các AEs thuộc G20, lạm phát lõi giảm từ tỷ lệ 2,7% trong năm 2024 xuống 2,6% vào năm 2025 và 2,4% vào năm 2026.
Lạm phát cũng tiếp tục hạ nhiệt tại Mêhicô, Canada và Mỹ. Lạm phát cơ bản giảm xuống tỷ lệ 3,7% vào năm 2025 và 3,2% vào năm 2026 tại Mêhicô; giảm xuống 2,6% vào năm 2025 và 2,5% vào năm 2026 tại Canada; giảm xuống 2,7% vào năm 2025 và 2,5% vào năm 2026 tại Mỹ.
Tóm lại, trên toàn cầu, rủi ro tăng trưởng thấp vẫn hiện hữu, trong đó xu hướng chia cắt kinh tế toàn cầu là vấn đề đáng lo ngại. Các rào cản thương mại sẽ cản trở tăng trưởng kinh tế toàn cầu và tiếp sức cho lạm phát, buộc các nước phải tăng cường các giải pháp thắt chặt tiền tệ, gây bất ổn đến các thị trường tài chính.
Nguồn tham khảo: OECD tháng 3/2025
Xuân Thanh