Những lưu ý trong lập và kiểm tra vận đơn đường biển theo tinh thần ISBP 745
GS.,TS. Nguyễn Văn Tiến và TS. Nguyễn Thị Hồng Hải1
Ngày 17 tháng 4 năm 2013, tại Lisbon, Bồ Đào Nha, Ủy ban Ngân hàng ICC đã thông qua bản dự thảo cuối cùng về “Tập quán Ngân hàng tiêu chuẩn Quốc tế - ISBP”, và phiên bản mới này đã được ấn hành ngày 01 tháng 7 năm 2013 với tên gọi ISBP745. Phần lớn các quy tắc của ISBP745 đã diễn giải lại hoặc viết lại các quy tắc của ISBP681 theo hình thức mới với mục đích làm rõ nghĩa mà không sửa đổi nội dung, tuy nhiên, một số quy tắc khác có bổ sung và sửa đổi nội dung. Trong số các quy tắc có bổ sung và sửa đổi nội dung bao gồm các chứng từ vận tải mà chủ yếu là vận đơn đường biển (Bill of Lading - B/L).
Bài viết này xin được lưu ý các doanh nghiệp xuất nhập khẩu khi lấy B/L, các công ty vận tải khi cấp B/L, và các ngân hàng khi kiểm tra B/L về một nội dung phức tạp, rất dễ mắc sai sót khiến cho bộ chứng từ theo L/C có thể bị từ chối thanh toán. Các nội dung cần chú ý gồm: (i) áp dụng điều khoản kiểm tra B/L, (ii) cách thức ghi chú “On Board”, và (iii) xác định ngày giao hàng.
1. Áp dụng điều khoản kiểm tra B/L
Khi nói đến vận đơn đường biển, thì điều đương nhiên là phải áp dụng Điều 20 UCP600 và các quy tắc thuộc mục E của ISBP745 để lập và kiểm tra. Vấn đề đặt ra là, trong L/C có hai nội dung liên quan đến lựa chọn điều khoản áp dụng đối với vận đơn đường biển phải xuất trình là: (i) Trường 46A - Chứng từ yêu cầu xuất trình; và (ii) Lộ trình chuyên chở tại các trường 44A - nơi nhận hàng, 44E - cảng xếp hàng, 44F - cảng dỡ hàng, 44B - nơi hàng đến cuối cùng. Vậy, nếu trong trường hợp “Tiêu đề chứng từ vận tải” mà L/C yêu cầu xuất trình mâu thuẫn với “Lộ trình chuyên chở”, thì khi lập và kiểm tra chứng từ sẽ căn cứ vào “Tiêu đề chứng từ (trường 46A)” mà L/C yêu cầu hay “Lộ trình chuyên chở” quy định trong L/C? Để trả lời câu hỏi này, trước hết ta xét ví dụ minh họa:
L/C quy định:
46A: Documents required: (Chứng từ yêu cầu xuất trình)
- Clean Multimodal Transport Document (Chứng từ vận tải đa phương thức sạch).
44A: Place of receipt: (Nơi nhận hàng - Để trống)
44E: Haiphong Port Vietnam (Port of loading - Cảng xếp hàng)
44F: Rostock Port Germany (Port of discharge - Cảng dỡ hàng)
44B: Final destination: (Nơi hàng đến cuối cùng - Để trống)
Chứng từ vận tải xuất trình:
Place of receipt: Hanoi
Port of loading: Haiphong Port
Port of discharge: Rostock Port
Final destination: Berlin
Căn cứ vào các dữ liệu cho thấy rằng: (i) L/C yêu cầu xuất trình chứng từ vận tải đa phương thức nhưng đồng thời lại quy định lộ trình chuyên chở từ cảng tới cảng (port - to - port); (ii) chứng từ vận tải xuất trình vừa có thể là chứng từ vận tải đa phương thức vừa có thể là vận đơn đường biển. Vậy, căn cứ để áp dụng điều khoản kiểm tra chứng từ này là như thế nào? Trong tình huống này, chúng ta phải căn cứ vào các đoạn D1)c và E1)a của ISBP 745 nói rằng: Căn cứ để áp dụng điều khoản kiểm tra chứng từ vận tải là lộ trình chuyên chở theo quy định của L/C chứ không phải theo tên gọi của L/C. Với quy định mới này của ISBP 745, thì các ngân hàng phải áp dụng Điều 20 UCP600 để kiểm tra chứng từ như một vận đơn đường biển.
Để lựa chọn đúng loại chứng từ vận tải yêu cầu xuất trình, thì phải tuân thủ quy tắc “Lộ trình chuyên chở” được thể hiện trong việc sử dụng các trường 44A, E, F và B trong đơn yêu cầu và trong L/C phát hành, cụ thể như sau:
- Nếu chỉ hai trường 44E và 44F được sử dụng, thì phải xuất trình chứng từ vận tải loại “từ cảng tới cảng” (Bill of lading, Sea Waybill, Charter Party Bill of lading hoặc Air Waybill).
- Nếu chỉ hai trường 44A và 44B được sử dụng, thì phải xuất trình chứng từ vận tải Multimodal Transport document, Road, hoặc Rail.
- Nếu chỉ ba trường 44A, 44E và 44F; hoặc chỉ ba trường 44E, 44F và 44B; hoặc tất cả bốn trường 44A, 44E, 44F và 44B được sử dụng, thì chứng từ vận tải xuất trình phải là multimodal transport document.
2. Cách thức ghi chú “On Board”
Một trong những nội dung quan trọng và bắt buộc đối với B/L đó là hàng hóa phải được “On Board” (đã xếp hàng lên tàu) trên một con tàu đích danh, tại cảng đích danh như quy định trong L/C. Tuy nhiên, đôi khi tập quán giữa các nơi hiểu không thống nhất, mẫu vận đơn giữa các hãng tàu lại khác nhau, lộ trình chuyên chở thể hiện trên vận đơn rất phức tạp,... dẫn đến việc xác định “On Board” là rất khó khăn, đôi khi không chính xác gây nhầm lẫn. Trong thực tế, các tranh chấp phát sinh trong cách thức ghi chú “On Board” là nguyên nhân phổ biến để các ngân hàng bắt lỗi bộ chứng từ, do đó, việc nhất quán trong cách thức ghi chú “On Board” là rất cần thiết. Để đáp ứng yêu cầu này, ICC đã nỗ lực ban hành các văn bản thể hiện quan điểm chính thức của mình ngay từ khi UCP 600 mới ra đời. Sau một thời gian áp dụng, các quan điểm ban đầu của ICC đã không phản ánh đầy đủ được tập quán quốc tế, do đó, buộc ICC phải thay đổi quan điểm về vấn đề này tại Văn bản số 470/1128rev final - ngày 22 tháng 4 năm 2010, cuối cùng các quan điểm về cách thức ghi chú “On Board” đã được thể hiện trong ấn phẩm chính thức của ICC là ISBP 745. Việc thay đổi cách thức ghi chú “On Board” có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với các bên liên quan, bởi vì nếu không thực hiện đúng thì người xuất khẩu có thể sẽ không được thanh toán, các ngân hàng có thể gặp rủi ro là đã thanh toán cho bộ chứng từ không phù hợp,... Sau đây là các lưu ý khi thực hiện ghi chú “On Board” theo tinh thần của ISBP 745.
Cụm từ “đã xếp hàng lên tàu” có thể được in sẵn hoặc không được in sẵn trên vận đơn. Nếu chưa được in sẵn, để trở thành vận đơn “đã xếp hàng lên tàu”, người phát hành phải ghi chú riêng hay đóng dấu (gọi là ghi chú lên tàu) một trong các chữ sau đây lên trên mặt trước của vận đơn: “Shipped on Board”, “On Board”, “Shipped”, “Laden on Board”, hoặc “Laden”. Như vậy, cầm vận đơn trên tay nếu có in sẵn hoặc có ghi hay đóng dấu thêm một trong các chữ như trên thì vận đơn đó thuộc loại “đã xếp hàng lên tàu”. Việc ghi chú “ngày” lên tàu phải tuân thủ các quy tắc sau:
Quy tắc 1: Đối với vận đơn in sẵn cụm từ “Shipped on Board”.
- Nếu không có ghi chú riêng ngày lên tàu, thì ngày phát hành vận đơn là ngày lên tàu.
- Nếu có ghi chú riêng ngày lên tàu, thì ngày ghi chú riêng là ngày lên tàu, cho dù ngày này có thể trước hoặc sau ngày phát hành vận đơn.
Quy tắc 2: Đối với vận đơn in sẵn cụm từ “Received for Shipment”.
Bản thân vận đơn in sẵn nội dung “Received for Shipment” (nhận hàng để chở) không đáp ứng được hợp đồng thương mại hay L/C có yêu cầu vận đơn xuất trình phải là vận đơn đã xếp hàng lên tàu. Người bán chưa hoàn thành nghĩa vụ của mình, vì hàng mới được “nhận để chở” mà chưa được xếp lên tàu. Muốn trở thành vận đơn đã xếp hàng lên tàu, thì người phát hành phải ghi chú thêm trên vận đơn là “đã xếp” và chỉ ra ngày tháng. Như vậy, ngày ghi chú trên vận đơn là ngày “xếp hàng” và cũng là ngày giao hàng.
Cách thức ghi chú “lên tàu”:
Hiện nay, các mẫu vận đơn thường in sẵn các trường về “Lộ trình chuyên chở” với các nội dung như sau:
1. Pre - carriage by: (Phương tiện tiền chuyên chở) |
2. Place of receipt: (Nơi nhận hàng để chở) |
3. Ocean vessel & voyage: (Tên con tàu và số liệu chuyến tàu) |
4. Port of loading: (Cảng xếp hàng) |
5. Port of discharge: (Cảng dỡ hàng) |
6. Place of delivery: (Nơi đích hàng đến) |
Căn cứ nội dung “Lộ trình chuyên chở”, các tình huống ghi chú “lên tàu” gồm có:
Trường hợp 1, vận đơn KHÔNG thể hiện phương tiện tiền chuyên chở, bao gồm các tình huống sau:
a/ Vận đơn không thể hiện nơi nhận hàng và không thể hiện phương tiện tiền chuyên chở, ví dụ:
1. Pre - carriage by: |
2. Place of receipt: |
3. Ocean vessel & voyage: MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery:
|
b/ Vận đơn thể hiện nơi nhận hàng khác với cảng xếp hàng nhưng không thể hiện phương tiện tiền chuyên chở, ví dụ:
1. Pre - carriage by: |
2. Place of receipt: HA NOI |
3. Ocean vessel & voyage: MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery: |
c/ Vận đơn thể hiện nơi nhận hàng trùng với cảng xếp hàng nhưng không thể hiện phương tiện tiền chuyên chở, ví dụ:
1. Pre - carriage by: |
2. Place of receipt: HAI PHONG CY |
3. Ocean vessel & voyage: MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery: |
Cách thức ghi chú như sau:
- Nếu vận đơn in sẵn cụm từ “Đã xếp hàng lên tàu” thì không cần có ghi chú riêng lên tàu nữa và ngày phát hành vận đơn được xem là ngày lên tàu. Tuy nhiên, nếu trên vận đơn có ghi chú riêng ngày lên tàu, thì ngày ghi chú riêng được xem là ngày lên tàu cho dù ngày này có thể trước hoặc sau ngày phát hành.
- Nếu vận đơn in sẵn cụm từ “Nhận hàng để chở” thì trong mọi trường hợp phải có ghi chú riêng ngày lên tàu và ngày ghi chú riêng được xem là ngày lên tàu cho dù ngày này có thể trước hoặc sau ngày phát hành.
- Trong các ghi chú lên tàu không cần chỉ ra tên con tàu và cảng xếp hàng.
Trường hợp 2, vận đơn THỂ HIỆN phương tiện tiền chuyên chở, bao gồm các tình huống sau:
a/ Vận đơn thể hiện phương tiện tiền chuyên chở nhưng không thể hiện nơi nhận hàng, ví dụ:
1. Pre - carriage by: MEKONG WEHR/100 |
2. Place of receipt: |
3. Ocean vessel & voyage: MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery: |
b/ Vận đơn thể hiện phương tiện tiền chuyên chở và thể hiện nơi nhận hàng khác với cảng xếp hàng, ví dụ:
1. Pre - carriage by: MEKONG WEHR/100 |
2. Place of receipt: HA NOI |
Ocean vessel & voyage: 3. MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery:
|
c/ Vận đơn thể hiện phương tiện tiền chuyên chở và thể hiện nơi nhận hàng trùng với cảng xếp hàng, ví dụ:
1. Pre - carriage by: MEKONG WEHR/100 |
2. Place of receipt: HAI PHONG CY |
Ocean vessel & voyage: 3. MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery: |
d/ Vận đơn thể hiện phương tiện tiền chuyên chở và thể hiện nơi nhận hàng cũng chính là cảng xếp hàng, ví dụ:
1. Pre - carriage by: MEKONG WEHR/100 |
2. Place of receipt: HAI PHONG PORT |
3. Ocean vessel & voyage: MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery: |
Cách thức ghi chú như sau:
Trong mọi trường hợp, cho dù vận đơn có in sẵn cụm từ “Đã xếp hàng lên tàu” hay không, thì luôn luôn phải có ghi chú riêng lên tàu chỉ ra:
- Ngày tháng,
- Tên con tàu mà hàng hóa thực sự được xếp lên,
- Cảng xếp hàng như quy định của L/C.
Lưu ý: Đối với tình huống d/ của trường hợp 2, có quan điểm sai lầm cho rằng:
“Do ISBP 745 không có quy định cụ thể về tình huống này, hơn nữa, về mặt logic cho thấy cảng xếp hàng không thể là một cảng nào đó khác với cảng HAI PHONG và con tàu tiền chuyên chở (MEKONG WEHR/100) cũng chính là con tàu đích danh mà hàng hóa đã được xếp lên tại cảng HAI PHONG, còn con tàu MAERSK TRIESTE/409 là con tàu dự kiến chuyển tải. Do đó, cách thức ghi chú được suy diễn như sau:
- Nếu vận đơn in sẵn cụm từ “Đã xếp hàng lên tàu” thì không cần có ghi chú riêng lên tàu nữa và ngày phát hành vận đơn được xem là ngày lên tàu (MEKONG WEHR/100).
- Nếu vận đơn in sẵn cụm từ “Nhận hàng để chở” thì phải có ghi chú riêng ngày lên tàu và ngày ghi chú riêng được xem là ngày lên tàu cho dù ngày này có thể trước hoặc sau ngày phát hành.
- Ghi chú không cần chỉ ra tên con tàu và cảng xếp hàng”.
Với cách suy diễn như trên là không đúng với tính thần của ISBP 745. Xin được trích dẫn tại khoản E6)c.ii. ISBP745:
E6)c. Notwithstanding that a credit may require a bill of lading to evidence a port-to-port shipment, when a bill of lading:
ii. indicates a means of pre-carriage (either in the pre-carriage field or the place of receipt field), no matter if no place of receipt is stated or whether it is pre-printed “shipped on board” or “received for shipment”, it is to bear a dated on board notation which also indicates the name of the vessel and the port of loading stated in the credit. Such notation may also appear in a designated field or box. The date appearing in the on board notation or designated field or box will be deemed to be the date of shipment.
E6)c. Mặc dù tín dụng có thể yêu cầu vận đơn chứng minh giao hàng từ cảng đến cảng, nếu vận đơn:
ii. thể hiện phương tiện tiền chuyên chở (hoặc tại trường tiền chuyên chở hoặc tại trường nơi nhận hàng), thì cho dù nơi nhận hàng có được thể hiện hay không hoặc vận đơn có hay không in sẵn từ “đã xếp hàng lên tàu” hoặc “đã nhận để chở”, thì vận đơn phải có ghi chú ngày xếp hàng, trong đó cũng thể hiện tên con tàu và cảng xếp hàng như quy định của tín dụng. Ghi chú như vậy cũng có thể được thể hiện tại trường hay hộp in sẵn. Ngày thể hiện tại ghi chú riêng lên tàu hoặc tại trường hoặc hộp in sẵn được xem là ngày giao hàng.
Như vậy, tình huống d/ của trường hợp 2 không được xem là trường hợp ngoại lệ mà vẫn phải tuân thủ quy tắc của ISBP là: Nếu vận đơn thể hiện phương tiện tiền chuyên chở, thì trong mọi trường hợp, ghi chú “On Board” phải thể hiện: (i) ngày tháng; (ii) tên con tàu đích danh mà hàng hóa thực sự được xếp lên; và (iii) cảng xếp hàng đích danh như quy định của L/C.
Trường hợp 3: Nếu vận đơn thể hiện nhiều cảng xếp hàng lên tàu, thì vận đơn phải có từng ghi chú lên tàu cùng ngày lên tàu tương thích với cảng xếp hàng. Ví dụ:
1. Pre - carriage by: |
2. Place of receipt: |
|||
3. Ocean vessel & voyage: MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT DA NANG PORT |
|||
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery: |
|||
Shipped on Board at HAI PHONG PORT 15th of October, 2013 |
|
Shipped on Board at HAI PHONG PORT 20th of October, 2013 |
|
|
Trường hợp 4: Nếu vận đơn thể hiện “con tàu dự kiến xếp hàng”, ví dụ:
1. Pre - carriage by: |
2. Place of receipt: |
3. Intended vessel & voyage: MAERSK TRIESTE/409 |
4. Port of loading: HAI PHONG PORT |
5. Port of discharge: SINGAPORE |
6. Place of delivery:
|
Trong mọi trường hợp, phải có ghi chú riêng lên tàu, chỉ ra ngày tháng và tên con tàu đích danh mà hàng hóa thực sự xếp lên, ngay cả khi tên con tàu đích danh đã được thể hiện trên vận đơn.
Trường hợp 5:
Trong một số ít trường hợp ta có thể bắt gặp vận đơn in sẵn cụm từ với nội dung: “Nếu ô trống ghi nơi nhận hàng đã được điền, thì bất kỳ ghi chú nào trên vận đơn này về “xếp hàng lên tàu” hoặc từ có nội dung tương tự sẽ được xem là lên tàu của phương tiện tiền chuyên chở”, và nếu ô trống ghi nơi nhận hàng để chở thực sự đã được điền, thì vận đơn phải có ghi chú riêng lên tàu. Trong ghi chú riêng lên tàu phải thể hiện: (i) ngày tháng; (ii) tên con tàu hàng hóa thực sự được xếp lên; (iii) cảng xếp hàng như quy định của tín dụng.
3. Quy tắc xác định ngày giao hàng trong một lần xuất trình
Trong thực tiễn vận tải và giao nhận hàng hóa, tùy thuộc vào quy định của L/C là có cho phép giao hàng từng phần hay không, mà xác định ngày giao hàng cho chính xác. Nếu trong cùng một lần xuất trình mà có nhiều ngày “On Board”, thì quy tắc xác định ngày giao hàng đối với các tình huống như sau.
Thứ nhất, L/C cấm giao hàng từng phần và không có chuyển tải: Nếu trên B/L có nhiều ngày “On Board” hoặc có nhiều B/L thể hiện hàng hóa được xếp lên cùng một con tàu, tại các cảng được phép, cùng một tuyến đường, thì ngày “On Board” muộn nhất được xem là ngày giao hàng cho lần xuất trình đó.
Thứ hai, L/C cho phép giao hàng từng phần: Do được phép giao hàng từng phần, nên sẽ có nhiều B/L thể hiện hàng hóa được xếp lên các con tàu khác nhau, tại các cảng được phép, thì ngày “On Board” sớm nhất được xem là ngày giao hàng cho lần xuất trình đó.
Thứ ba, trên B/L thể hiện có chuyển tải: Do B/L thể hiện chuyển tải và thể hiện ngày (các ngày) “On Board” xếp lên con tàu (các con tàu) chuyển tải, thì: Ngày “On Board” sớm nhất (tức ngày xếp hàng lên con tàu đầu tiên nhận hàng) được xem là ngày giao hàng cho lần xuất trình đó; ngày “On Board” lên con tàu chuyển tải không được xem là ngày giao hàng.
Trong mọi trường hợp, ngày giao hàng phải trong thời hạn hiệu lực của L/C và trong thời hạn giao hàng theo quy định của L/C (nếu có).
Điểm cần lưu ý là, theo quy định của ICC, thì khi ghi chú “On Board” không cần phải ký, ký tắt hay xác thực. Điều này được lý giải là vì ý nghĩa của việc ghi chú “On Board” là tương tự như việc ghi chú về cước phí như: “freight prepaid”, “freight to collect”, “freight to be paid at destination”, “freight as arranged”,... nhưng các ghi chú này lại không cần phải ký, ký tắt hay xác thực nào. Tuy nhiên, người giao hàng thường vẫn yêu cầu người phát hành vận đơn phải ký, ký tắt hay xác nhận, điều này là không cần thiết. Nếu có ký hay xác nhận thì ngân hàng phát hành L/C cũng không xem xét.
Kết luận
Theo UCP 600, đối với vận đơn đường biển thì việc thể hiện “đã xếp hàng lên tàu” là bắt buộc, tuy nhiên, tập quán quốc tế lại rất phong phú và phức tạp, nên việc nhầm lẫn trong cách hiểu và sai sót trong khâu lập và kiểm tra vận đơn là rất dễ xảy ra. Hy vọng rằng, bài viết này đã góp phần làm sáng tỏ được một nội dung quan trọng nhưng phức tạp về vận đơn đường biển, đồng thời chỉ ra cách thức lập và kiểm tra vận đơn đường biển, giúp các bên liên quan tránh được rủi ro đáng tiếc có thể xảy ra.
Tài liệu tham khảo:
1. UCP600 và ISBP745
2. Document No.470/1128rev final - 22 April 2010
3. GS. TS. Nguyễn Văn Tiến: Cẩm nang Thanh toán quốc tế và Tài trợ Ngoại thương. NXB Thống kê, 2014.
4. Nguyễn Hữu Đức: ISBP745 có gì mới? Tạp chí Ngân hàng số 8 tháng 4/2013.
5. Nguyễn Hữu Đức: Những ý kiến ICC được rút lại? Tạp chí Ngân hàng số 15 tháng 8/2013.
1 Học viện Ngân hàng