1. Cơ sở, nguồn gốc hình thành và nội dung hoạt động chính:
Tự do hoá tài khoản vốn là một trong bốn nội dung của Lộ trình Hội nhập Tiền tệ và Tài chính khu vực ASEAN được thông qua tại Hội nghị Bộ trưởng Tài chính ASEAN lần thứ 7 vào tháng 8/2003 với mục tiêu là tự do hóa hơn các luồng chu chuyển vốn vào năm 2020. Trên cơ sở đó, Nhóm Công tác về tự do hoá tài khoản vốn (cấp kỹ thuật) đã được thành lập để triển khai các kế hoạch đã được đề ra trong Lộ trình Tự do hoá tài khoản vốn.
Theo lộ trình hội nhập tài chính tiền tệ, nguyên tắc tự do hoá tài khoản vốn phải đảm bảo quá trình tự do hoá có trật tự, phù hợp với kế hoạch của từng quốc gia, từng nước thành viên sẽ thực hiện quá trình tự do hoá tài khoản vốn theo phương thức là tổng hợp quy chế hiện hành về tài khoản vốn và tự đưa ra một chương trình tự do hoá các khoản mục trong tài khoản vốn. Tự do hóa tài khoản vốn nhằm tạo thuận lợi và tự do hóa hơn nữa các luồng luân chuyển vốn được đề ra trong Kế hoạch Tổng thể Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC Blueprint), theo đó, tự do hóa các luồng chu chuyển vốn được thực hiện theo các nguyên tắc: (i) tự do hóa tài khoản vốn phù hợp với điều kiện thực tế và mức độ sẵn sàng của các nước thành viên; (ii) cho phép phòng vệ chính đáng trước các nguy cơ mất ổn định kinh tế vĩ mô và rủi ro hệ thống; và (iii) đảm bảo chia sẻ lợi ích giữa tất cả các nước ASEAN.
Trên cơ sở các nguyên tắc định hướng nêu trên, các nước thành viên sẽ tiến hành tự do hoá theo bốn bước sau: (i) nới lỏng hoặc loại bỏ các qui định liên quan đến giao dịch vãng lai (2008-2015); áp dụng Điều VIII của IMF về loại bỏ hạn chế đối với các thanh toán và chuyển tiền để thực hiện các giao dịch vãng lai quốc tế vào năm 2011; (ii) đánh giá và dần dần nới lỏng các qui định về chuyển tiền quốc tế liên quan đến FDI (2008-2015); (iii) đánh giá và dần dần nới lỏng các qui định về các luồng vốn đầu tư gián tiếp; đặc biệt các qui định về nợ và cổ phần (2009-2015); và (iv) đánh giá và dần dần nới lỏng các qui định về các luồng vốn khác, đặc biệt cả qui định về vay nợ nước ngoài dài hạn của người cư trú (2011-2015).
2. Tiến trình thực hiện và định hướng trong thời gian tới
Theo lộ trình hội nhập tài chính tiền tệ, nguyên tắc tự do hoá tài khoản vốn phải đảm bảo quá trình tự do hoá có trật tự, phù hợp với kế hoạch của từng quốc gia, từng nước thành viên sẽ thực hiện quá trình tự do hoá tài khoản vốn theo phương thức là tổng hợp quy chế hiện hành về tài khoản vốn và tự đưa ra một chương trình tự do hoá các khoản mục trong tài khoản vốn.
Trên cơ sở đó, hàng năm các nước sẽ báo cáo, trao đổi về các biện pháp, chính sách tự do hoá các khoản mục của nước mình. Điều đó sẽ giúp Việt nam cũng như các nước cập nhật được các biện pháp, chính sách về việc loại bỏ dần các rào cản đối với các luồng luân chuyển vốn của từng nước trong khu vực.
Trong xu thế toàn cầu hóa, chu chuyển các luồng vốn giữa các quốc gia tăng mạnh cả về qui mô và tốc độ, mỗi quốc gia cần có chính sách và biện pháp đối phó thích hợp nhằm đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô và tăng trưởng bền vững. Đặc biệt là, cần xác định rõ liều lượng, lộ trình và thời điểm áp dụng chính sách, trước hết cần dựa trên mục tiêu kinh tế của nước thụ hưởng, cơ chế tỉ giá, các qui định về thể chế. Trong đó, cần xác định được động cơ và nguyên nhân của luồng vốn vào, cơ cấu luồng vốn, tác động của nó đến nền kinh tế và hệ thống tài chính.
Trong bối cảnh cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra sâu rộng trên phạm vi toần cầu với cơ chế tác động lan truyền đến hầu hết các quốc gia, một số quốc gia trong khu vực đề xuất áp dụng các biện pháp quản lý đặc biệt đối với các luồng luân chuyển vốn, đặc biệt là các luồng vốn ngắn hạn, nhằm duy trì sự ổn định của nền kinh tế và hệ thống tài chính (trong quá trình đàm phán FTA của ASEAN với các đối tác, Thái Lan đã đề xuất đưa các điều khoản thận trọng vào nội dung các hiệp định nhằm bảo vệ sự ổn định kinh tế vĩ mô cũng như cán cân thanh toán).
Trong thời gian qua, Việt Nam đã và đang thực hiện tự do hóa tài khoản vốn một cách có trật tự, bắt đầu từ thu hút FDI và mở cửa ngoại thương, nới lỏng kiểm soát lợi nhuận chuyển ra, và gần đây các nhà đầu tư được phép mua trái phiếu chính phủ với khối lượng và giá trị không hạn chế, mua 49% cổ phiếu doanh nghiệp và 30% cổ phiếu ngân hàng. Tuy nhiên, do độ mở của nền kinh tế lớn, Việt Nam cũng chịu những tác động bất lợi của dòng vốn đầu tư gián tiếp chảy vào trong như áp lực lạm phát, thâm hụt cán cân vãng lai... Do đó, trước những biến động của môi trường kinh tế trong nước và toàn cầu, trong thời gian tới, Việt Nam cần có những đánh giá thận trọng đối với việc thực hiện lộ trình tự do hóa tài khoản vốn nhằm đảm bảo việc thực hiện các cam kết của khu vực và quốc tế, đồng thời đảm bảo duy trì được các mục tiêu của các chính sách tài khóa, tiền tệ và tỷ giá.
Theo lộ trình đã được đề ra trong AEC, trong thời gian tới, các nước sẽ thực hiện việc đánh giá và và loại bỏ dần các rào cản đối với các luồng luân chuyển vốn trong khu vực theo lịch trình sau: (i): Rà soát, đánh giá về các rào cản đối với các luồng vốn gián tiếp (2009-2010); (ii) Dỡ bỏ dần các rào cản đã được xác định đối với các luồng luân chuyển vốn: Luồng vốn FDI, bắt đầu dỡ bỏ từ năm 2010; Luồng vốn đầu tư gián tiếp, bắt đầu dỡ bỏ từ năm 2011; Luồng vốn khác, bắt đầu dỡ bỏ từ năm 2012.
HTQT