Để nâng cao sức cạnh trên thương trường, các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam hiện nay không ngừng tập trung phát triển công nghệ thông tin nhằm đáp ứng toàn diện nhu cầu quản lý và phát triển được xem là nền tảng trong lộ trình phát triển chiến lược công nghệ thông tin của mình. Có rất nhiều các nhóm dự án/dự án đã và đang được các NHTM triển khai tập trung ở các mảng chính như :
- Nhóm dự án Giải pháp ngân hàng lõi – Corebanking (đây được coi là xương sống cho mọi hoạt động quy trình nghiệp vụ trong các NHTM. Về bản chất đây là hệ thống phần mềm tích hợp các ứng dụng tin học trong quản lý thông tin, tài sản, giao dịch, quản trị rủi ro…trong hệ thống ngân hàng. Hệ thống thông tin ở đây bao gồm thông tin về tiền, tài sản thế chấp, giao dịch, giấy tờ, sổ sách kế toán, dữ liệu máy tính … Các hệ thống ứng dụng khác, không ít thì nhiều, đều phải tương tác trao đổi thông tin với hệ thống Corebanking. Như vậy, trong thực tế, hệ thống Corebanking thường được ưu tiên triển khai trước, xong xuôi rồi mới tới các hệ thống khác mới được triển khai)
- Nhóm dự án Nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng (Dịch vụ ngân hàng điện tử với rất nhiều tính năng tiện ích cao cấp. Qua internet banking khách hàng có thể thực hiện được tất cả các giao dịch, thao tác bao gồm cả tài chính và phi tài chính; hoặc các dự án liên quan đến Quản trị quan hệ khách hàng, Khởi tạo khoản vay, Nguồn vốn – Treasury);
- Nhóm dự án hỗ trợ Quản trị và Điều hành (Quản lý tài chính nội bộ, Quản trị nguồn nhân lực và Bảng lương, Hệ thống thông tin quản lý, Phân tích tài chính, Phòng chống rửa tiền, Quản lý tài sản Nợ và Có);
- Nhóm dự án Tài trợ thương mại (Đây là dự án mà các NHTM Việt Nam muốn đánh giá các đối tác, khách hàng chính xác hơn, từ đó có thể đề xuất mức ký quỹ thấp hơn thường lệ, tạo điều kiện cho khách hàng sử dụng vốn vào những mục đích khác. Ngoài ra có thể phát hiện những rủi ro cao từ phía khách hàng, giúp nâng cao mức ký quỹ yêu cầu, thậm chí có thể từ chối làm việc với khách hàng đó);
- Nhóm dự án Nâng cao năng lực về công nghệ (Mô hình hoạt động công nghệ thông tin, Kiến trúc Hướng dịch vụ - SOA, Giám sát Anh ninh Doanh nghiệp, Quản lý nội dung doanh nghiệp, Giám sát ứng dụng tập trung).
Trong quá trình triển khai các dự án của mình, tuy khác nhau về quy mô, về định hướng tập trung tùy thuộc vào đặc thù của từng NHTM, song các NHTM lại cùng gặp nhau ở một điểm khá rõ nét, đó là việc “Tích hợp hệ thống” – System Integration.
Đây là khái niệm khá mới mẻ trong các dự án Công nghệ thông tin mà hiện nay một số NHTM Việt nam đang triển khai. Ở mức độ khái quát, thì tích hợp hệ thống được hiểu là quá trình kết hợp các thành phần riêng lẻ thành một hệ thống thuần khiết để giảm thiểu sự chồng chéo, tăng hiệu quả hệ thống. Ở các NHTM, với các dự án công nghệ thông tin có quy mô nhỏ, lẻ (phần mềm + phần cứng + dịch vụ) thì chưa quan tâm nhiều đến vấn đề tích hợp. Nhưng theo thời gian, khi yêu cầu công việc của ngân hàng trở nên đa dạng và phức tạp, khi các ngân hàng thực hiện rà soát và phát hiện ra nhiều phần mềm khác thì không thể tích hợp được vào nhau, dẫn đến chi phí tăng cao, trong khi năng suất lao động chung không tăng lên bao nhiêu thì lúc đó “Tích hợp hợp hệ thống” trở thành vấn đề thiết yếu được đặt ra và sẽ được quan tâm thích đáng. Vậy cụ thể “Tích hợp hệ thống” là gì? Tại sao phải tích hợp hệ thống và các yêu cầu cơ bản khi tiến hành tích hợp hệ thống là như thế nào?
Tích hợp hệ thống?
Đây là khái niệm đa dạng và được thực hiện ở nhiều mức độ khác nhau bởi quy trình gắn kết các hệ thống máy tính, các phần mềm ứng dụng khác nhau cùng hoạt động như một hệ thống cả về phương tiện vật lý lẫn phương tiện chức năng nhằm gia tăng giá trị cho hệ thống, năng lực của hệ thống do tương tác giữa các hệ thống con. Hay nói cách khác, đó là sự kết hợp các thành phần đơn lẻ (gồm phần cứng, phần mềm, các dịch vụ…) với nhau tạo thành hệ thống thuần nhất, đảm bảo cho các chức năng của nhiều hệ thống con hoạt động cùng nhau. Sự kết hợp thuần nhất ở đây được hiểu là những thông tin về mặt nghiệp vụ chứ không chỉ đơn thuần là những thông tin trao đổi qua các kết nối vật lý như kết nối mạng, chuyển đổi định dạng dữ liệu giữa các hệ thống khác nhau, v. v…
Tích hợp hệ thống: mảnh ghép hoàn hảo ?
Tích hợp hệ thống ngày càng trở nên quan trọng vì sẽ đảm bảo sử dụng hiệu quả cao nhất các cơ sở hạ tầng sẵn có, đồng thời ứng dụng được nhiều giải pháp mới bằng việc tích hợp sản phẩm của các hãng sản xuất khác nhau.
Với các dự án lớn hoặc với nhóm các dự án, việc triển khai tích hợp sẽ có thể thực hiện bởi nhà thầu tích hợp. Một số công ty công nghệ hàng đầu trên thế giới như IBM, HP, Microsoft, Oracle, Cisco… đã triển khai các dịch vụ của họ trong thị trường tích hợp hệ thống tại các NHTM Việt Nam với một số hệ thống tích hợp chuyên nghiệp như Maybank, CIMB,…
Nhìn từ khía cạnh kinh doanh, mục tiêu sau cùng của việc tích hợp hệ thống là để hỗ trợ và cải thiện các quy trình nghiệp vụ của ngân hàng, nhằm đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ đến khách hàng trong thời gian ngắn nhất cũng như nâng cao hiệu quả đầu tư kinh doanh. Lợi ích của việc tích hợp hệ thống đã được các NHTM nhìn nhận và triển khai có bài bản. Song trong quá trình triển khai dự án tích hợp, vẫn còn tồn tại một số bất cập:
1.Thiếu tính tổng thể: Công việc tích hợp cho cả chương trình không phải đơn thuần cứ mạnh dự án nào là dự án ấy lo việc tích hợp cho mình. Nếu các dự án triển khai không có sự phối hợp, tương đối độc lập nhau về mặt nghiệp vụ, trong trường hợp các dự án vẫn chạy và tích hợp tương đối thành công, thì các NHTM sẽ phải đối mặt với việc điều chỉnh, bổ sung cho có sự tương tác trong toàn hệ thống ngân hàng. Ví dụ ứng dụng A cần lấy thông tin từ ứng dụng B và C, thì các kết nối để trao đổi thông tin giữa chúng sẽ là những kết nối thẳng từ A đến B và từ A đến C. Bản thân mỗi ứng dụng B và C lại có thể cần tương tác trao đổi thông tin với các ứng dụng D,E,F… khác và lại nảy sinh những kết nối thẳng trực tiếp tương tự. Quan hệ một – nhiều sẽ biến thành quan hệ nhiều – nhiều và dẫn tới các kết nối giữa toàn bộ ứng dụng trong ngân hàng sẽ là một mạng lưới chồng chéo và phức tạp. Tất nhiên trong hợp đồng của mỗi dự án, các NHTM đều yêu cầu về tích hợp. Song các yêu cầu thường chung chung, cộng thêm vấn đề liệu nhà thầu có đủ khả năng thực hiện các yêu cầu tích hợp thông qua phần mềm lớp (ví dụ như WebSphere Mqseries) hay không? Do đó, vấn đề đặt ra là các dự án cần phải được quản lý thống nhất, nếu để chạy từng dự án riêng rẽ, tích hợp riêng rẽ thì nguy cơ rủi ro là rất lớn.
2.Thiếu thông tin: Khi các nhóm dự án được triển khai đồng loạt, thì phạm vi và yêu cầu nghiệp vụ cho mỗi dự án có sự phụ thuộc sẽ chưa được nhận định rõ, ví dụ, tại thời điểm này giải pháp phần mềm mà hệ thống Corebanking mới chưa được xác định rõ ràng, tương tự như vậy với các hệ thống CRM, DataWarehouse, MDM,… khả năng tương thích và mức độ tích hợp giữa những hệ thống này với nhau là bài toán cần được tính kỹ. Việc thiếu thông tin, cũng như những thống nhất cơ bản ban đầu sẽ dẫn tới những yêu cầu phải thay đổi cũng như phát sinh chi phí là không tránh khỏi khi các dự án có sự tương tác, kết nối với nhau trong quá trình vận hành. Ví dụ một dự án A khi triển khai cần lấy thông tin từ hệ thống Corebanking, cập nhật thông tin vào hệ thống Thẻ chẳng hạn. Khi đó, thông tin về các hệ thống Corebanking và Thẻ sẽ cho chúng ta biết một số thông tin cần tích hợp như: tích hợp dự án A với hệ thống Corebanking; tích hợp dự án A với hệ thống Thẻ (tại một số NHTM hiện nay đang sử dụng hệ thống Thẻ Getronics và Tranzware). Như vậy thông tin ban đầu là tích hợp các hệ thống đã nêu trên, song chúng ta chưa thể xác định được ngay phạm vi và mức độ tích hợp, mà mới chỉ biết được tên và những đặc thù kỹ thuật và nghiệp vụ của những hệ thống cần tích hợp vào.
Với những phân tích đã dẫn ra ở trên có thể thấy, khi triển khai các dự án/nhóm dự án, thì các NHTM cần hết sức lưu ý tới bài toán tích hợp hệ thống, vì đây là chìa khóa cho sự thành công của của chiến lược phát triển công nghệ thông tin. Việc tích hợp hệ thống rất đa dạng và tích hợp ở nhiều mức khác nhau như: tích hợp hệ thống máy chủ, tích hợp hệ thống mạng, phần mềm ứng dụng, xây dựng giao diện… do đó các NHTM sẽ phải giải bài toán liên quan đến các hệ thống, giải pháp ứng dụng để nâng cao khả năng kết nối với các thành phần/dự án đơn lẻ thành một hệ thống thuần nhất để mang lại hiệu quả cuối cùng cho khách hàng. Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh gay gắt, thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng, chiếm lĩnh thị phần, gia tăng lợi nhuận, tăng cường năng lực và hoạt động kinh doanh nhằm thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Phương Ngọc
(Cnth theo thnh)