NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
THÔNG CÁO BÁO CHÍ
KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG NĂM 2012,
ĐỊNH HƯỚNG NHIỆM VỤ NĂM 2013
I- KẾT QUẢ THỰC HIỆN CÁC NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2012
Năm 2012, ngành Ngân hàng gặp nhiều khó khăn, thách thức do những tác động bất lợi của kinh tế vĩ mô trong nước và ngoài nước. Hệ thống các TCTD bước vào năm 2012 trong điều kiện thanh khoản căng thẳng, rủi ro tiềm ẩn lớn, một bộ phận các TCTD có nguy cơ mất khả năng chi trả, mặt bằng lãi suất ở mức cao, cạnh tranh huy động vốn trên thị trường gay gắt do nhu cầu thanh khoản lớn dẫn đến tình trạng vi phạm trần lãi suất khá phổ biến, nợ xấu có chiều hướng gia tăng. Trước thực trạng đó, bám sát Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 3/1/2012, Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp chỉ đạo, điều hành nhằm đảm bảo thanh khoản, ổn định thị trường tiền tệ, thị trường ngoại tệ, vàng, giảm nhanh mặt bằng lãi suất cho vay, và tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Một số kết quả cụ thể như sau:
1. Kết quả điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng, tỷ giá:
- Điều hành lượng tiền cung ứng một cách chủ động, linh hoạt, phối hợp hài hòa giữa các kênh, góp phần tăng dự trữ Ngoại hối Nhà nước ở mức lớn, nhưng vẫn đảm bảo góp phần kiềm chế lạm phát theo mục tiêu, đồng thời đảm bảo an toàn hệ thống. Đến cuối năm 2012, tổng phương tiện thanh toán tăng 22,4% so với cuối năm 2011, tuy cao hơn mức định hướng đề ra từ đầu năm nhưng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và thị trường tiền tệ.
- Điều hành lãi suất đã định hướng, dẫn dắt thị trường, đồng thời có sự điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và tiền tệ; mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh so với cuối năm 2011.Đến cuối năm 2012, mặt bằng lãi suất huy động VND giảm 3-6%/năm, lãi suất cho vay giảm 5-9%/năm so với cuối năm 2011 và đã trở về mức lãi suất vào cuối năm 20071.
- Các giải pháp tín dụng được điều hành linh hoạt theo hướng mở rộng tín dụng đi đôi với an toàn hoạt động của TCTD, cơ cấu tín dụng chuyển hướng tích cực phù hợp với chủ trương chống đô la hóa và tập trung vốn vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ. Đến cuối năm 2012, tăng trưởng tín dụng đạt khoảng 8,91%. Trong đó, tín dụng VND tăng 11,51%, tín dụng bằng ngoại tệ giảm 1,56% so với cuối năm 2011, phù hợp với chủ trương hạn chế đô la hóa của Chính phủ. Tín dụng nông nghiệp, nông thôn tăng khoảng 8%, tín dụng xuất khẩu tăng khoảng 14%, tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng khoảng 6,15%. Dư nợ cho vay các lĩnh vực không khuyến khích giảm và chiếm tỷ trọng khoảng 4,4% so tổng dư nợ cho vay nền kinh tế.
- Hệ thống ngân hàng quyết liệt thực hiện nhiều giải pháp theo chỉ đạo của Chính phủ để tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh (về chi phí vay vốn và khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng). Tín dụng mặc dù tăng trưởng thấp nhưng đã tăng dần trở lại qua các tháng; tỷ trọng dư nợ cho vay với lãi suất trên 15%/năm đã giảm mạnh từ mức 65,8% trước ngày 15/7/2012 xuống còn 19,2% vào cuối năm 2012. Các TCTD đã chủ động phối hợp với khách hàng vay rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn trong việc trả nợ vốn vay phù hợp với chu kỳ sản xuất-kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, phương án vay vốn, khả năng trả nợ của khách hàng.
- Điều hành chính sách tỷ giá và ngoại hối chủ động, dẫn dắt thị trường, kết hợp với việc điều hành chính sách tiền tệ hợp lý đã đạt được mục tiêu ổn định tỷ giá, tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước, giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế. Tỷ giá mua trung bình của các NHTM giảm 1% so với cuối năm 2011, chênh lệch tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do bị thu hẹp. Tỷ lệ đô la hóa (tiền gửi ngoại tệ/tổng phương tiện thanh toán) giảm xuống còn 12,3% từ mức 15,8% vào cuối năm 2011. NHNN mua một lượng lớn ngoại tệ để tăng Dự trữ ngoại hối Nhà nước.
- Thanh khoản bằng VND của hệ thống các TCTD được cải thiện, nguy cơ đổ vỡ hàng loạt từ cuối năm ngoái đã được đẩy lùi, các TCTD đã chú trọng hơn trong việc quản trị rủi ro thanh khoản, đảm bảo an toàn hệ thống. Thể hiện: (i) Số dư tiền gửi của TCTD tại NHNN luôn cao hơn so với yêu cầu dự trữ bắt buộc; (ii) Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng giảm 10-11%/năm so với đầu năm và ổn định ở mức thấp, không còn tình trạng căng thẳng về thanh khoản, đẩy lãi suất lên cao như trong năm 2011; (iii) Các TCTD đã mua một lượng lớn trái phiếu Chính phủ để cơ cấu lại danh mục đầu tư và dự phòng thanh khoản; (iv) Hoạt động của các TCTD về cơ bản an toàn, lành mạnh, trật tự kỷ cương thị trường đã được khôi phục và tiếp tục được duy trì ổn định.
- NHNN tăng cường phối hợp chặt chẽ toàn diện hơn với các Bộ, ngành, đảm bảo tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô khác: (i) Việc phát hành Tín phiếu NHNN được thực hiện với khối lượng, kỳ hạn và lãi suất hợp đã tạo điều kiện để Bộ Tài chính phát hành được một khối lượng lớn tín phiếu Kho bạc, trái phiếu Chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, qua đó tăng thanh khoản cho nền kinh tế (nếu tính cả hai kênh tín dụng và đầu tư vào trái phiếu Chính phủ, hệ thống các TCTD đã cung ứng vào nền kinh tế tương đương mức tăng trưởng tín dụng khoảng 13,91%). (ii) Chủ động phối hợp, làm việc trực tiếp với Bộ Công thương, Bộ Xây dựng để đánh giá và triển khai các biện pháp xử lý hàng tồn kho của doanh nghiệp và tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản; (iii) Phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để hỗ trợ cho vay đối với thủy sản, cá ba sa tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, cho vay thu mua, xuất khẩu gạo, cho vay đối với ngành cà phê, cho vay đối với chăn nuôi, chế biến thịt lợn, gia cầm và cá tra, xây dựng nông thôn mới...
2. Quản lý thị trường vàng:
Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã xây dựng lộ trình chấm dứt tình trạng ”vàng hóa” nền kinh tế gồm ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Xây dựng khuôn khổ pháp lý chặt chẽ để quản lý thị trường vàng; Giai đoạn 2: Chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của tổ chức tín dụng và Giai đoạn 3 là chuyển hoàn toàn quan hệ huy động, cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua, bán vàng miếng; Nhà nước sẽ thực hiện huy động nguồn vốn bằng vàng thông qua việc mua vàng tăng Dự trữ Ngoại hối Nhà nước và cung ứng vốn cho nền kinh tế. Kết quả triển khai trong năm 2012 cụ thể như sau:
NHNN đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 (Nghị định 24) thay thế Nghị định 174 về quản lý thị trường vàng. Nghị định 24 đã tạo lập khuôn khổ pháp lý nhằm tổ chức, sắp xếp lại thị trường vàng. Sau khi Nghị định 24 được ban hành, NHNN đã khẩn trương ban hành các văn bản triển khai, gồm: Thông tư số 16/2012/TT-NHNN;Quyết định 1623/QĐ-NHNN về việc tổ chức và quản lý sản xuất vàng miếng của NHNN và Quyết định 69/QĐ-NHNN.m ban hành kèm Quy chế giám sát hoạt động gia công vàng miếng từ nguồn vàng nguyên liệu không phải của NHNN. NHNN cũng ban hành Thông tư số 38/2012/TT-NHNN về trạng thái vàng của các TCTD, Thông tư số 11/2011/TT-NHNN yêu cầu các TCTD chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng. Đến ngày 27/4/2012, NHNN đã ban hành Thông tư số 12/2012/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 11/2011/TT-NHNN theo hướng cho phép tổ chức tín dụng được phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng để chi trả vàng theo yêu cầu của khách hàng khi số vàng thu nợ và tồn quỹ không đủ để chi trả và gia hạn thời gian chấm dứt việc phát hành chứng chỉ ngắn hạn bằng vàng của TCTD vào ngày 25/11/2012.
Có thể khẳng định, năm 2012 là năm đánh dấu sự thành công bước đầu trong công tác quản lý thị trường vàng của NHNN theo đúng chủ trương, định hướng của Chính phủ. NHNN đã nỗ lực tham mưu, trình Chính phủ trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tổ chức triển khai chấm dứt hoạt động huy động và cho vay vốn bằng vàng của các TCTD và áp dụng các biện pháp đồng bộ để quản lý thị trường vàng. Nhờ đó, thị trường vàng trong nước, đặc biệt là thị trường vàng miếng trong năm 2012 có nhiều chuyển biến đáng kể so với trước kia. Mặc dù giá vàng trong nước và thế giới biến động mạnh, nhưng không như thời gian trước đây, khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”. Từ đầu năm 2012, NHNN không cho phép nhập khẩu vàng nguyên liệu để sản xuất vàng miếng, không thực hiện bình ổn giá vàng nhưng trên thị trường hầu như không diễn ra việc nhập lậu vàng qua biên giới, nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ ổn định, không bị tác động tiêu cực bởi sự biến động của giá vàng.
3. Kết quả thực hiện cơ cấu lại các TCTD
Ngay sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án ”Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015”, Thống đốc NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng để triển khai thực hiện Đề án. Ngay từ đầu năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã tập trung triển khai quyết liệt các nội dung, giải pháp cơ cấu lại theo đúng kế hoạchh đề ra và đạt được một số kết quả quan trọng như sau:
- Đánh giá, xác định được 9 NHTMCP cần tập trung ưu tiên cơ cấu lại, đồng thời thành lập các Ban Chỉ đạo có đại diện NHNN làm Trưởng ban và thành viên là các Bộ Công an, Bộ Thông tin và truyền thông, UBND tỉnh, thành phố nơi NHTMCP yếu kém đặt trụ sở chính; thành lập các Tổ giám sát tại các NHTMCP yếu kém để giám sát chặt chẽ, toàn diện các ngân hàng này. Tiến hành kiểm toán do công ty kiểm toán quốc tế thực hiện, đồng thời NHNN tiến hành thanh tra toàn diện 9 ngân hàng này. Căn cứ kết quả thanh tra, kiểm toán, NHNN đã yêu cầu các ngân hàng này xây dựng phương án cơ cấu lại phù hợp với quy định của pháp luật và Đề án cơ cấu lại hệ thống các TCTD giai đoạn 2011-2015 nhằm khắc phục những khó khăn, yếu kém của từng ngân hàng. Đến nay, NHNN đã trình xin ý kiến Thủ tướng Chính phủ phương án cơ cấu lại của 8/9 ngân hàng yếu kém2 trước khi NHNN phê duyệt. Trên cơ sở phương án đã được phê duyệt, 03 ngân hàng đã tiến hành hợp nhất với nhau, 01 ngân hàng đã sáp nhập vào ngân hàng khác, 3 ngân hàng đang tiến hành tự cơ cấu lại và 01 ngân hàng sẽ hợp nhất vào TCTD khác. Khi triển khai phương án cơ cấu lại đã được phê duyệt, các ngân hàng này phải triển khai các giải pháp cơ cấu lại toàn diện về tài chính, hoạt động, quản trị và khắc phục các sai phạm.
Quá trình xử lý các ngân hàng yếu kém được Ngân hàng Nhà nước kiểm soát chặt chẽ thông qua các biện pháp nghiệp vụ, bảo đảm khả năng chi trả đầy đủ tiền gửi của dân cư; không để xảy ra tình trạng rút tiền hàng loạt tại các ngân hàng; an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội được giữ vững; các ngân hàng yếu kém được NHNN kiểm soát, theo dõi chặt chẽ. Rủi ro hệ thống và nguy cơ đổ vỡ hệ thống ngân hàng từng bước được đẩy lùi, thanh khoản của hệ thống các TCTD, kể cả các NHTMCP yếu kém được cải thiện rõ rệt.
- Tích cực chỉ đạo các tổ chức tín dụng triển khai các giải pháp kiềm chế nợ xấu gia tăng, thu hồi nợ đến hạn và chủ động xử lý nợ xấu phù hợp với quy định của pháp luật. Nhờ đó, nợ xấu đã có chiều hướng tăng chậm lại đáng kể3; Dự phòng rủi ro đã trích lập chưa sử dụng đến cuối tháng 11/2012 đạt 78,6 ngàn tỷ đồng (tương đương 58,31% nợ xấu), tăng 33% so với cuối năm 2011; Nợ xấu được các TCTD xử lý ước đạt 45 ngàn tỷ đồng; các biện pháp cơ cấu lại nợ đã góp phần kiềm chế nợ xấu tăng nhanh và hỗ trợ khách hàng vay vốn. Nhiều TCTD đã chấp nhận giảm lợi nhuận, tiết giảm chi phí, kể cả tiền lương, tiền thưởng của người lao động để tập trung trích lập dự phòng rủi ro cho xử lý nợ xấu.
Để xử lý căn bản nợ xấu, NHNN đã trình Chính phủ Đề án xử lý nợ xấu và Đề án thành lập Công ty quản lý tài sản. 02 Đề án này sẽ sớm được Ban Cán sự Đảng Chính phủ báo cáo Bộ Chính trị cho ý kiến trước khi Thủ tướng Chính phủ ký ban hành.
- Các TCTD quan tâm hơn đến đổi mới, nâng cao hiệu quả hệ thống quản trị, điều hành, hệ thống kiểm soát, kiểm toán nội bộ và rà soát, kiện toàn tổ chức bộ máy, sắp xếp lại màng lưới và các vị trí lãnh đạo, điều hành chủ chốt. Cơ cấu lại hoạt động kinh doanh và danh mục tài sản được triển khai bước đầu, đồng thời từng bước định hướng chiến lược kinh doanh, cạnh tranh phù hợp. Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và hiện đại hoá công nghệ ngân hàng.
Về cơ bản, việc triển khai cơ cấu lại hệ thống các TCTD năm 2012 đã đạt được mục tiêu và lộ trình đề ra trong Đề án là tập trung bảo đảm khả năng chi trả của hệ thống và xử lý ngân hàng yếu kém, đặc biệt bước đầu đã giảm được 3 ngân hàng yếu kém thông qua sáp nhập, hợp nhất.
4. Kết quả quản lý, thanh tra, giám sát ngân hàng
- Công tác thanh tra, giám sát năm 2012 của NHNN đã có sự đổi mới về phương thức tổ chức, chỉ đạo thực hiện đem lại sự cải thiện rõ rệt về chất lượng và hiệu quả góp phần nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, từng bước lập lại kỷ cương trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng, đồng thời hỗ trợ tích cực cho quá trình cơ cấu lại các TCTD. Thông qua thanh tra toàn diện, thực trạng tài chính, hoạt động và những yếu kém, hạn chế của TCTD đã được làm rõ. Những phát hiện và kiến nghị của Thanh tra, giám sát ngân hàng góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện các quy định, chính sách quản lý đối với lĩnh vực ngân hàng.
- NHNN tích cực triển khai đồng bộ việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về thanh tra, giám sát và an toàn hoạt động ngân hàng nhằm tăng cường quản lý nhà nước, đồng thời hỗ trợ trực tiếp cho quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD một cách có hiệu quả để bảo đảm hệ thống các TCTD sau cơ cấu lại hoạt động trên nền tảng an toàn, lành mạnh và bền vững hơn. Xây dựng, trình Quốc hội ban hành Luật, phòng chống rửa tiền số 07/2012/QH13 ngày 18/06/212.
- Tăng cường công tác quản lý cấp phép thành lập TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, mở rộng màng lưới để kiểm soát chặt chẽ quy mô hoạt động, hạn chế rủi ro đối với TCTD, hỗ trợ tích cực cho quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD. Năm 2012, NHNN không cấp phép thành lập mới NHTM, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Việc mở chi nhánh của các ngân hàng chủ yếu phục vụ cho mục đích phát triển nông nghiệp, nông thôn và bảo đảm an ninh, quốc phòng.
II- NHIỆM VỤ TRỌNG TÂM NĂM 2013
Trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ năm 2012 và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2013 được Quốc hội thông qua, NHNN xác định các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong năm 2013 như sau:
1. Điều hành linh hoạt và đồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ, đảm bảo kiểm soát lượng tiền cung ứng phù hợp với định hướng điều hành tổng phương tiện thanh toán, tín dụng, nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ. Cụ thể:
- Điều hành các mức lãi suất của NHNN phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, tiền tệ, đặc biệt là diễn biến của lạm phát. Tiếp tục áp dụng trần lãi suất tiền gửi bằng VND để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường, xem xét bỏ trần lãi suất huy động khi thị trường tiền tệ ổn định và thanh khoản của hệ thống TCTD cải thiện vững chắc. Trường hợp lạm phát của năm 2013 được kiểm soát ở mức thấp hơn năm 2012, tiếp tục điều hành theo hướng giảm mặt bằng lãi suất phù hợp với diễn biến lạm phát.
- Điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở.
- Thực hiện cho vay tái cấp vốn với khối lượng, lãi suất và thời hạn hợp lý cho các mục đích hỗ trợ thanh khoản, phát triển kinh tế theo các lĩnh vực ưu tiên của Chính phủ, cho vay đối với các đối tượng mua nhà ở xã hội, hỗ trợ quá trình giải quyết nợ xấu và thực hiện cơ cấu lại hệ thống các TCTD.
2. Về giải pháp điều hành tín dụng:
- Kiểm soát tăng trưởng tín dụng theo định hướng tăng trưởng tín dụng cả năm 2013 khoảng 12% nhưng linh hoạt điều chỉnh theo diễn biến và tình hình thực tế. Không kiểm soát tỷ trọng cho vay đối với lĩnh vực không khuyến khích; tiếp tục cho phép các TCTD tự quyết định cho vay ngắn hạn bằng ngoại tệ đối với các nhu cầu vốn để thanh toán ra nước ngoài tiền hàng nhập khẩu xăng dầu của các doanh nghiệp không có nguồn thu ngoại tệ và cho vay trong nước để thực hiện phương án sản xuất, kinh doanh hàng xuất khẩu đối với doanh nghiệp có nguồn thu bằng ngoại tệ, thực hiện đến hết năm 2013.
- Phối hợp với Bộ Xây dựng ban hành, hướng dẫn Quy chế cho vay mua nhà ở xã hội theo các đối tượng phù hợp với chỉ đạo của Chính phủ.
- Tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành thực hiện các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường; chuyển đổi cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho sản xuất hàng xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
- Tổ chức, triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và các bộ, ngành liên quan đánh giá những kết quả đạt được và những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện Nghị định số 41/2010/NĐ-CP để xem xét trình Chính phủ sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tế; xử lý các vấn đề khó khăn, vướng mắc về hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực kinh tế.
- Sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về hoạt động tín dụng, phù hợp với Luật các TCTD và điều kiện thực tế để kiểm soát chặt chẽ và đảm bảo an toàn hoạt động cấp tín dụng của các TCTD, hạn chế các rủi ro phát sinh.
3. Điều hành tỷ giá và thị trường ngoại hối linh hoạt theo tín hiệu thị trường, phù hợp với quan hệ cung - cầu ngoại tệ trên thị trường, các cân đối vĩ mô, diễn biến cán cân thanh toán quốc tế. Phối hợp với các bộ, ngành thực hiện các biện pháp để tăng dự trữ ngoại hối Nhà nước; tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát thị trường ngoại tệ, vàng và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, thực hiện giải pháp khắc phục tình trạng đô la hóa và vàng hóa trong nền kinh tế.
Tiếp tục tổ chức, sắp xếp chặt chẽ thị trường vàng, chuyển hóa hoàn toàn quan hệ huy động và cho vay vốn bằng vàng sang quan hệ mua, bán vàng. Khi thị trường vàng miếng hoạt động tương đối ổn định, NHNN sẽ tham gia thị trường với vai trò là người kiến tạo và mua bán cuối cùng trên thị trường vàng miếng, đảm bảo sự lưu thông của thị trường và tăng Dự trữ Ngoại hối Nhà nước bằng vàng.
4. Nâng cao chất lượng thống kê, dự báo phục vụ cho hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ.
5. Tập trung triển khai mạnh mẽ, đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại hệ thống các TCTD theo Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong đó nhiệm vụ trọng tâm là:
- Triển khai Đề án xử lý nợ xấu được Chính phủ thông qua; thành lập và đưa vào hoạt động Công ty Quản lý tài sản; xây dựng Nghị định về tổ chức và hoạt động của Công ty Quản lý tài sản.
- Tiếp tục triển khai đánh giá đầy đủ và toàn diện thực trạng tài chính, chất lượng tín dụng, xác định rõ những yếu kém, hạn chế của từng TCTD theo Kế hoạch thanh tra năm 2013.
- Triển khai đồng bộ các quy định liên quan đến an toàn hoạt động của TCTD, phân loại tài sản, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro, các quy định liên quan đến việc xử lý các TCTD yếu kém làm cơ sở cho việc đánh giá chính xác hơn các rủi ro trong hoạt động ngân hàng và hình thành nên các chuẩn mực an toàn cao hơn để phòng ngừa, ngăn chặn rủi ro, đặc biệt là các rủi ro phát sinh từ những quan hệ mang tính lợi ích nhóm, sở hữu chéo cũng như tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các TCTD yếu kém không thể tự tái cơ cấu và những cán bộ lãnh đạo có nhiều vi phạm nghiêm trọng trong quản lý, điều hành TCTD.
- Trên cơ sở kết quả thanh tra năm 2012 và kết quả rà soát, đánh giá thực trạng tài chính, hoạt động của TCTD cũng như các quy định mới về an toàn hoạt động ngân hàng sẽ được ban hành trong quý I/2013, NHNN chỉ đạo việc xây dựng và triển khai các nội dung tái cơ cấu đối với từng TCTD cụ thể nhằm khắc phục những yếu kém, hạn chế và vi phạm của TCTD.
- Tiếp tục giám sát, theo dõi chặt chẽ việc triển khai phương án cơ cấu lại các ngân hàng đã được phê duyệt trong năm 2012 để bảo đảm thực hiện đúng lộ trình đã đề ra trong phương án.
6. Tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả Kế hoạch thanh tra năm 2013 được Thống đốc phê duyệt. Thực hiện thanh tra pháp nhân đối với các TCTD, trong đó tập trung vào những TCTD có biểu hiện kém an toàn, vi phạm pháp luật, TCTD chưa được thanh tra trong 03 năm gần đây.
7. Tăng cường công tác thông tin truyền thông, cung cấp thông tin đầy đủ, kịp thời về các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng.
NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM