Tại Phiên họp thường kỳ tháng 8 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch - Đoàn đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi:
- Giải trình rõ về tình hình nợ xấu, cụ thể nợ xấu của cấc nhóm ngân hàng thương mại, trong đó có các ngân hàng thương mại nhà nước.
- Vấn đề giảm lãi suất theo trần cho vay 15%; kết quả và thực tế áp dụng như thế nào?
- Tình hình tín dụng hiện nay; Kế hoạch tăng dư nợ tín dụng trong các tháng còn lại của năm 2012; Khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp?
- CPI liên tục tăng trưởng âm trong 2 tháng 6 và 7/2012, vậy chính sách tiền tệ có điều chỉnh không? Cách điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước để giải quyết mối quan hệ hợp lý giữa tăng GDP và CPI?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước trả lời đại biểu Trần Du Lịch như sau:
1. Về vấn đề nợ xấu:
Theo báo cáo của các tổ chức tín dụng, đến ngày 31/5/2012, nợ xấu của hệ thống là 117.723 tỷ đồng, chiếm 4,47% so với tổng dư nợ tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là 54,6 ngàn tỷ đồng, chiếm 3,96% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; Nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 41 ngàn tỷ đồng, chiếm 4,54% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.
Theo kết quả giám sát của Ngân hàng Nhà nước (Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng) đối với gần 1,01 triệu khách hàng vay được chọn mẫu của 57 tổ chức tín dụng của Việt Nam chiếm tới 90,1% tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng này, đến ngày 31/3/2012 (số liệu giám sát sẵn có gần nhất) nợ xấu của các tổ chức tín dụng là 202.099 tỷ đồng, chiếm 8,6% tổng dư nợ cấp tín dụng. Trong đó, nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước là 125,8 ngàn tỷ đồng, chiếm 10,37% dư nợ cấp tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại nhà nước; nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần là 60,9 ngàn tỷ đồng, chiếm 5,8% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần.
Nguyên nhân số liệu giám sát của Ngân hàng Nhà nước cao hơn so với báo cáo của các tổ chức tín dụng là do: (i) Ngân hàng Nhà nước thực hiện chuyển nhóm nợ theo đúng quy định hiện hành (Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/4/2007), trong khi một số tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ, ghi nhận nợ xấu trong báo cáo tài chính thấp hơn thực tế để giảm chi phí trích lập dự phòng rủi ro; (ii) các tiêu chí phân loại nợ theo quy định hiện hành có bao gồm tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính. Quy định này phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng do năng lực quản trị rủi ro của các tổ chức tín dụng không đồng đều, nên việc sử dụng các tiêu chí định tính trong phân loại nợ có thể dẫn đến sự khác nhau về nhóm nợ khi xác định và ghi nhận nợ xấu của tổ chức tín dụng.
2. Về vấn đề giảm lãi suất:
Trong những tháng đầu năm 2012, mặt bằng lãi suất huy động và cho vay đã giảm mạnh với mức giảm khoảng 3-6%/năm so với cuối năm 2011. Ngân hàng Nhà nước đã thực hiện 5 lần điều chỉnh giảm các mức lãi suất điều hành; đồng thời, quy định và điều chỉnh giảm lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa bằng VND đối với 4 lĩnh vực ưu tiên gồm nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, ngành công nghiệp hỗ trợ từ mức tối đa 15%/năm xuống 13%/năm áp dụng từ 11/6/2012. Hiện nay, lãi suất cho vay phổ biến với 4 lĩnh vực này ở mức khoảng 10-13%/năm.
Để giúp các doanh nghiệp và hộ dân vượt qua khó khăn, duy trì ổn định và từng bước phát triển sản xuất - kinh doanh, tại Hội nghị sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2012, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã đề nghị các tổ chức tín dụng xem xét, điều chỉnh giảm lãi suất cho vay của các khoản vay cũ về mức tối đa là 15%/năm.
Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, các ngân hàng thương mại nhà nước và ngân hàng thương mại cổ phần đã ban hành văn bản hướng dẫn việc điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với các khoản cũ xuống mức tối đa là 15%/năm trong hệ thống ngân hàng mình. Theo số liệu thống kê đến ngày 02/8/2012, tỷ trọng dư nợ cho vay với lãi suất trên 15%/năm đã giảm được 60% so với trước ngày 15/7/2012 (trước ngày 15/7 tỷ trọng dư nợ cho vay lãi suất trên 15%/năm khoảng 65%, đến ngày 02/8 giảm mạnh xuống còn 29,1%), trong đó, lãi suất giảm mạnh nhất là ở 5 ngân hàng thương mại nhà nước giảm từ mức 61% xuống còn 6,9% (giảm khoảng 87% so với tỷ trọng trước ngày 15/7), các ngân hàng khác đang tích cực rà soát để tiếp tục điều chỉnh trong các ngày tới.
Để triển khai mạnh mẽ hơn nữa các biện pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quan hệ tín dụng và điều chỉnh giảm lãi suất của các khoản cho vay cũ về mức tối đa 15%/năm, từ sau ngày 15/7/2012, Lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã dẫn đầu các đoàn công tác đến các tỉnh, thành phố làm việc với Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân và đối thoại trực tiếp với doanh nghiệp trên địa bàn; đồng thời, chỉ đạo, hướng dẫn các tổ chức tín dụng triển khai thực hiện giảm lãi suất và các biện pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, dân doanh. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tổ chức thực hiện trong hệ thống mình.
Với sự chỉ đạo quyết liệt của Ngân hàng Nhà nước và sự hỗ trợ tích cực của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố, các tổ chức tín dụng đang rất tích cực rà soát để tiếp tục điều chỉnh giảm lãi suất của các khoản cho vay cũ theo đúng chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước.
3. Về tình hình tín dụng và khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp:
- Về tình hình tăng trưởng tín dụng: Tín dụng đến ngày 30/7/2012 tăng 1,02% so với 31/12/2011.
- Về kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong các tháng còn lại của năm 2012: Trong những tháng cuối năm 2012, Ngân hàng Nhà nước chủ trương điều hành linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ đảm bảo thanh khoản cho các tổ chức tín dụng, lãi suất và tỷ giá ở mức phù hợp với cân đối vĩ mô, tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 14-16%, phấn đấu đạt mức tăng trưởng tín dụng năm 2012 từ 8-10%, nhằm góp phần kiềm chế lạm phát ở mức 7-8%. Ngân hàng Nhà nước tiếp tục theo dõi sát tình hình tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống và của từng tổ chức tín dụng, xem xét điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng khi tổ chức tín dụng có đề nghị, đảm bảo tăng trưởng tín dụng đi đôi với an toàn hệ thống, tập trung vốn cho vay các lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ.
- Về khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng của doanh nghiệp:
Nguồn vốn cho vay của ngân hàng chủ yếu là nguồn vốn huy động từ doanh nghiệp và dân cư, vì vậy bảo đảm an toàn vốn là một trong các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động tín dụng ngân hàng. Trong điều kiện khả năng trả nợ ngân hàng của doanh nghiệp, hộ dân suy giảm và nợ xấu đang có xu hướng gia tăng nhanh như hiện nay thì việc các tổ chức tín dụng chú trọng thẩm định khoản vay để hạn chế rủi ro và đảm bảo an toàn vốn là cần thiết. Do khả năng tiêu thụ hàng hóa kém, hàng tồn kho tăng cao, năng lực tài chính của doanh nghiệp kém, nên việc đáp ứng đủ các điều kiện vay vốn ngân hàng của doanh nghiệp bị hạn chế.
Thực hiện Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày 10/5/2012 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực rà soát, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong việc trả nợ vốn vay; điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ đối với khách hàng có hoạt động sản xuất, kinh doanh theo chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt; xem xét miễn, giảm lãi phải trả đối với khách hàng bị tổn thất về tài sản dẫn đến khó khăn về tài chính theo quy định pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp có triển vọng phát triển, có sản phẩm đáp ứng yêu cầu của thị trường nhưng đang gặp khó khăn về tài chính vay được vốn ngân hàng để phục vụ sản xuất kinh doanh; xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng trong những tháng cuối năm phù hợp với chủ trương mở rộng tín dụng hiệu quả của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước; giảm lãi suất cho vay của các khoản cho vay cũ về mức tối đa 15%/năm...
Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước đã tổ chức các đoàn công tác đến các địa bàn, tỉnh thành phố để phối hợp với với tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tổ chức Hội nghị kết nối ngân hàng và doanh nghiệp nhằm tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quan hệ tín dụng giữa tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.
Thực hiện chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước, các tổ chức tín dụng đã và đang tích cực triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn và triển khai nhiều chương trình cho vay lãi suất thấp đối với các lĩnh vực ưu tiên: cho vay nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, công nghiệp hỗ trợ (lãi suất 10-13%/năm); áp dụng lãi suất hợp lý đối với những khách hàng có tình hình tài chính lành mạnh, phương án kinh doanh khả thi.
Ngoài ra, Ngân hàng Nhà nước cũng đã chủ động phối hợp, làm việc trực tiếp với từng Bộ, ngành (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng...) nhằm nắm bắt khó khăn, vướng mắc và đề xuất các giải pháp tháo gỡ, hỗ trợ cụ thể, phù hợp đối với từng lĩnh vực, đặc biệt là xử lý vấn đề hàng tồn kho để có cơ sở mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp. Ngân hàng Nhà nước cũng đã có văn bản đề nghị Bộ Tài chính triển khai có hiệu quả các giải pháp phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp để tạo thêm kênh hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp bên cạnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng; hoàn thiện phương thức và thúc đẩy hiệu quả hoạt động của Quỹ bảo lãnh doanh nghiệp nhỏ và vừa (qua Ngân hàng Phát triển Việt Nam), cùng với các tổ chức tín dụng tạo kênh cung ứng vốn có hiệu quả cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đồng thời, Ngân hàng Nhà nước cũng đang dự thảo Thông tư hướng dẫn các ngân hàng thương mại phối hợp với Ngân hàng Phát triển Việt Nam triển khai thực hiện cơ chế bảo lãnh cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vay vốn...
4. Về điều hành chính sách tiền tệ trong những tháng cuối năm 2012:
Trong 6 tháng đầu năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã quyết liệt triển khai các giải pháp điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng phù hợp với chủ trương của Chính phủ về các giải pháp kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Nghị quyết 01/NQ-CP và Nghị quyết 13/NQ-CP. Thực tế cho thấy, các giải pháp điều hành của Ngân hàng Nhà nước đã đi đúng hướng và đạt được những kết quả khả quan như lạm phát được kiềm chế, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, chỉ số giá tiêu dùng tăng ở mức thấp; thanh khoản của toàn hệ thống ngân hàng được đảm bảo và có xu hướng cải thiện, dự trữ ngoại hối tăng cao, thị trường vàng, ngoại hối, tỷ giá ổn định…
Trong tháng 6 và 7/2012, chỉ số giá tiêu dùng giảm so với tháng trước và đã có nhiều ý kiến cho rằng, Ngân hàng Nhà nước nên xem xét điều chỉnh chính sách tiền tệ và đặc biệt là chính sách lãi suất. Tuy nhiên, qua nghiên cứu, Ngân hàng Nhà nước cho rằng việc điều hành lãi suất cần đảm bảo hài hòa lợi ích của người gửi tiền, tổ chức tín dụng và khách hàng vay, phù hợp với diễn biến của nền kinh tế và tiền tệ. Mặc dù, lạm phát tháng 7/2012 tăng so với cùng kỳ năm 2011 là 5,35%, nhưng với việc thực hiện quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh giải ngân, ứng trước chi ngân sách trong năm 2013 và mở rộng tín dụng trong 6 tháng cuối năm 2012 thì kỳ vọng lạm phát vẫn vào khoảng 7-8%, theo đó lãi suất huy động như quy định hiện nay là phù hợp.
Trong những tháng cuối năm, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ về việc nhất quán mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô những tháng cuối năm 2012 và những năm tiếp theo, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, hiệu quả các công cụ chính sách tiền tệ, phù hợp với các cân đối vĩ mô; điều chỉnh giảm lãi suất cho vay xuống mức hợp lý, nhằm kích thích tăng trưởng tín dụng, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tiếp cận được nguồn vốn tín dụng của ngân hàng; giám sát việc áp dụng lãi suất cho vay và việc thực hiện chính sách cho vay lãi suất thấp đối với các lĩnh vực ưu tiên. Đồng thời, để hỗ trợ tăng trưởng hợp lý và bảo đảm an sinh xã hội, các bộ, ngành đang tập trung đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, trái phiếu chính phủ, thực hiện ứng trước kế hoạch vốn đầu tư năm 2013 đối với một số công trình, đẩy nhanh thực hiện các dự án ODA, hỗ trợ thuế đúng đối tượng, xúc tiến thương mại, mở rộng thị trường, kích thích tiêu thụ và tiêu dùng, giải phóng hàng tồn kho của doanh nghiệp...
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.