Tại Kỳ họp thứ 4, Quốc hội Khóa XIII, Ngân hàng Nhà nước nhận được chất vấn của đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch - Đoàn Đại biểu Quốc hội thành phố Hồ Chí Minh.
Câu hỏi
1. Đề nghị Thống đốc cho biết nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại nước ta đến thời điểm hiện nay chiếm tỷ lệ bao nhiêu so với tổng dư nợ tín dụng? Cơ cấu nợ xấu theo nhóm ngành như: công nghiệp, xây dựng, bất động sản..., theo NHTM quốc doanh khu vực tư nhân (NHTMCP tư nhân)? Diễn biến nợ xấu trong những tháng gần đây như thế nào? Giải pháp NHNN nhằm giảm nợ xấu?
2. Vi phạm trần lãi suất huy động: Dư luận cử tri cho biết hiện nay nhiều NHTM phá trần huy động tín dụng 9% do NHNN quy định dưới nhiều hình thức, đề nghị Thống đốc cho biết thực trạng như thế nào? Phải chăng đang có dấu hiệu thiếu thanh khoản cục bộ ở một số NHTM? NHNN có biện pháp gì để xử lý?
3. Qua phương tiện thông tin đại chúng, trước đây Thống đốc có hứa NHNN sẽ điều tiết để giá vàng trong nước không có mức chênh lệch vượt quá 400 ngàn đồng/lượng so với giá vàng quốc tế. Xin Thống đốc cho biết thực trạng thị trường vàng trong thời gian gần đây có diễn ra như sự cam kết của Thống đốc không? Tại sao? Xin Thống đốc cho biết đến 25/11/2012 không cho phép NHTM huy động tín dụng bằng vàng miếng thì NHNN có chính sách, biện pháp gì để huy động số vàng cất giữ trong người dân không?
Thống đốc Ngân hàng Nhà nước xin trả lời Đại biểu Trần Du Lịch như sau:
1. Về nợ xấu:
1.1. Về thực trạng nợ xấu: Đến ngày 30/6/2012, nợ xấu theo các tổ chức tín dụng báo cáo là 119.139 tỷ đồng, chiếm 4,49% so với tổng dư nợ tín dụng. Theo kết quả thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu của các tổ chức tín dụng đến cuối tháng 6/2012 chiếm khoảng 8,8% tổng dư nợ tín dụng. Số nợ xấu này không phải mới phát sinh mà trên thực tế đã được tích lũy trong một thời gian dài, đặc biệt là thời kỳ nới lỏng chính sách kinh tế vĩ mô và bắt đầu lộ diện từ Quý IV/2011 trở lại đây khi môi trường kinh doanh xấu đi, tín dụng tăng chậm và Chính phủ triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại các tổ chức tín dụng.
- Cơ cấu nợ xấu theo các nhóm tổ chức tín dụng:
+ Nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước chiếm 3,76% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại Nhà nước và chiếm 44,26% tổng nợ xấu toàn hệ thống.
+ Nợ xấu của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần chiếm 4,73% dư nợ tín dụng của nhóm ngân hàng thương mại cổ phần và chiếm 35,3% tổng nợ xấu của toàn hệ thống.
+ Nợ xấu của nhóm công ty tài chính chiếm 12,27% dư nợ tín dụng của nhóm công ty tài chính, chiếm 7,2% nợ xấu của toàn hệ thống.
+ Nợ xấu của nhóm công ty cho thuê tài chính chiếm 44,72% dư nợ tín dụng của nhóm công ty cho thuê tài chính và chiếm 6,7% tổng nợ xấu của toàn hệ thống.
+ Nợ xấu của nhóm ngân hàng nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh chiếm 2,86% dư nợ của các đối tượng này và chiếm 5,2% tổng nợ xấu của toàn hệ thống.
+ Nợ xấu của các quỹ tín dụng nhân dân chiếm 1,4% dư nợ của quỹ tín dụng nhân dân và chiếm 0,45% tổng nợ xấu của toàn hệ thống.
- Cơ cấu nợ xấu theo ngành kinh tế: Nợ xấu chủ yếu tập trung ở 6/21 ngành kinh tế. Đến cuối tháng 6/2012, nợ xấu của 6 nhóm ngành này là gần 96.000 tỷ đồng, chiếm 80,49% tổng số nợ xấu của toàn nền kinh tế, cụ thể:
+ Công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 4,33% dư nợ của ngành và 22,5% tổng nợ xấu của toàn hệ thống;
+ Kinh doanh bất động sản và hoạt động dịch vụ chiếm 7,83% dư nợ của ngành và 19,25% tổng nợ xấu của toàn hệ thống;
+ Bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy và xe có động cơ chiếm 4,16% dư nợ của ngành và 18,52% tổng nợ xấu của toàn hệ thống;
+ Vận tải, kho bãi chiếm 11,61% dư nợ của ngành và 11% tổng nợ xấu của toàn hệ thống;
+ Xây dựng chiếm 4,81% dư nợ của ngành và 9,5% tổng nợ xấu của toàn hệ thống;
1.2. Một số giải pháp đã và đang được triển khai nhằm xử lý và hạn chế nợ xấu gia tăng:
- Giải pháp về cơ chế, chính sách
+ Ban hành Quyết định số 780/QĐ-NHNN ngày 23/4/2012 cho phép các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài giữ nguyên nhóm nợ đối với các khoản nợ được điều chỉnh kỳ hạn nợ, gia hạn nợ nếu tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng có chiều hướng tích cực và có khả năng trả nợ tốt sau khi điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, gia hạn nợ. Thực hiện Quyết định số 780/QĐ-NHNN, đến ngày 30/6/2012 có 36,5 ngàn tỷ đồng dư nợ tín dụng được cơ cấu lại và giữ nguyên nhóm nợ. Giải pháp này đã giúp giảm bớt áp lực trả nợ, lãi phạt và tăng khả năng tiếp cận vay vốn ngân hàng đối với khách hàng vay.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng thực hiện các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp: (i) xem xét cấp tín dụng hợp vốn theo quy định tại Thông tư số 42/2011/TT-NHNN ngày 15/12/2011 của Ngân hàng Nhà nước đối với các dự án lớn có hiệu quả; (ii) tích cực thực hiện các giải pháp xử lý nợ, thực hiện mua bán nợ theo Quyết định số 59/2006/QĐ-NHNN ngày 21/2/2006 của Ngân hàng Nhà nước, báo cáo Ngân hàng Nhà nước các khoản nợ muốn mua/bán nhưng chưa tìm được đối tác.
+ Điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ và lượng tiền cung ứng phù hợp với mục tiêu kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng tạo điều kiện cho tăng trưởng tín dụng, góp phần giúp doanh nghiệp và nền kinh tế tiếp tục vận hành và tăng trưởng, từ đó góp phần đảm bảo nguồn tài chính cho doanh nghiệp và hạn chế sự gia tăng của nợ xấu.
+ Sửa đổi, bổ sung các quy định về mua trái phiếu doanh nghiệp, cấp tín dụng; xây dựng quy định mới về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro theo hướng chặt chẽ hơn và mở rộng phạm vi tài sản có tiềm ẩn rủi ro tín dụng phải phân loại và trích lập dự phòng rủi ro để phản ánh đầy đủ hơn thực trạng nợ xấu và hạn chế nợ xấu gia tăng (dự kiến ban hành trong quý IV/2012). Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định an toàn trong hoạt động ngân hàng (các tỷ lệ an toàn, uỷ thác và nhận uỷ thác,...) nhằm hạn chế rủi ro cho các tổ chức tín dụng.
+ Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tích cực phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và xử lý nợ xấu thông qua sử dụng dự phòng rủi ro, bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm.
+ Tăng cường công tác thanh tra, giám sát các tổ chức tín dụng trong việc thực hiện các giải pháp cơ cấu lại, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và chấp hành các quy định của pháp luật về hoạt động ngân hàng. Qua công tác thanh tra các tổ chức tín dụng trong năm 2012, Ngân hàng Nhà nước đã buộc các tổ chức tín dụng phải thực hiện phân loại nợ, trích lập dự phòng đầy đủ để tạo nguồn xử lý nợ xấu, đồng thời yêu cầu ngân hàng vi phạm giới hạn tỷ trọng tín dụng phải thu hồi nợ đã góp phần tạo nguồn mở rộng tín dụng cho các đối tượng không khuyến khích.
- Các giải pháp về phía các tổ chức tín dụng
+ Đánh giá lại chất lượng và khả năng thu hồi của các khoản nợ để có biện pháp xử lý thích hợp;
+ Chủ động phối hợp với khách hàng vay để cơ cấu lại nợ, giãn thời gian trả nợ và xem xét miễn, giảm lãi suất một cách hợp lý cho khách hàng có triển vọng tốt sau cơ cấu lại nợ để khách hàng giảm bớt khó khăn tài chính tạm thời và nâng cao hiệu quả kinh doanh, tạo nguồn thu mới trả nợ tổ chức tín dụng.
+ Tích cực xử lý tài sản bảo đảm, bán nợ để thu hồi vốn, giảm nợ xấu. Tiếp tục đầu tư, cho vay đối với khách hàng có nợ xấu do khó khăn tạm thời nhưng có triển vọng phục hồi và phát triển tốt; Chuyển nợ thành vốn góp, cổ phần của doanh nghiệp vay, đồng thời tham gia cơ cấu lại doanh nghiệp.
+ Tăng cường trích lập, sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nợ xấu theo quy định của pháp luật. Tính đến cuối tháng 8/2012, số dự phòng rủi ro đã được các tổ chức tín dụng trích lập chưa sử dụng là 72.907 tỷ đồng, tăng hơn 14 ngàn tỷ đồng so với cuối năm 2011. Trong 8 tháng đầu năm 2012, số nợ xấu được các tổ chức tín dụng xử lý bằng nguồn dự phòng rủi ro là gần 8 ngàn tỷ đồng.
- Các giải pháp hỗ trợ:
Hiện nay, để hỗ trợ xử lý nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước đang xây dựng, trình Bộ Chính trị, Chính phủ Đề án thành lập công ty quản lý tài sản để xử lý nợ xấu một cách tập trung với quy mô lớn, trong đó tập trung xử lý nợ xấu có tài sản bảo đảm là bất động sản. Bên cạnh đó, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương phối hợp triển khai thêm các giải pháp hỗ trợ xử lý nợ xấu như:
+ Triển khai quyết liệt, đồng bộ các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường, giảm lượng hàng tồn kho, thúc đẩy tiêu thụ hàng hóa, kích thích đầu tư và tiêu dùng trong nước, đồng thời có giải pháp hỗ trợ thị trường bất động sản phục hồi nhanh, quản lý chặt chẽ và bảo đảm thị trường này phát triển lành mạnh.
+ Đối với một số khoản vay thế chấp bằng bất động sản, công trình sắp hoàn thành hoặc đã hoàn thành nhưng chưa bán được, Chính phủ xem xét mua lại các bất động sản đó để phục vụ cho mục đích an sinh xã hội và hoạt động của các cơ quan nhà nước.
+ Các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ các tổ chức tín dụng hoàn thiện các hồ sơ pháp lý liên quan đến tài sản bảo đảm tiền vay để sớm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng. Sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các quy định về bán, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay để giúp ngân hàng xử lý tài sản đảm bảo, thu hồi nợ nhanh chóng, thuận tiện. Đổi mới, nâng cao hiệu quả thi hành án dân sự để bảo vệ quyền chủ nợ của tổ chức tín dụng và giúp tổ chức tín dụng thu hồi tài sản sớm nhất.
+ Thúc đẩy thị trường mua bán nợ phát triển thông qua ban hành và triển khai có hiệu quả các quy định, chính sách về mua bán nợ.
+ Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Ngân hàng Nhà nước xây dựng, trình cơ quan có thẩm quyền ban hành các chính sách, quy định về miễn, giảm thuế, phí liên quan đến mua bán nợ xấu và các tài sản bảo đảm tiền vay của tổ chức tín dụng. Bộ Tài chính xây dựng, trình Chính phủ phê duyệt phương án xử lý nợ xấu của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam.
+ Tích cực triển khai đồng bộ các giải pháp sắp xếp, đổi mới và cơ cấu lại các doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước gắn với việc xử lý nợ xấu và lành mạnh hoá tài chính của các doanh nghiệp nhà nước.
Trong bối cảnh môi trường kinh doanh có nhiều khó khăn, song nhờ chủ động triển khai kịp thời các chính sách, biện pháp ngăn chặn và xử lý nợ xấu của Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng, nợ xấu có chiều hướng tăng chậm lại từ quý II/20121. Điều này cho thấy quan điểm và giải pháp xử lý nợ xấu của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước là hợp lý và đúng hướng.
2. Về vấn đề trần lãi suất huy động và thanh khoản của các ngân hàng thương mại:
Qua theo dõi từ phương tiện thông tin đại chúng và kết quả thanh tra giám sát của Ngân hàng Nhà nước, trong thời gian qua có hiện tượng một số tổ chức tín dụng triển khai một số sản phẩm tiền gửi áp dụng lãi suất huy động vượt trần quy định của Ngân hàng Nhà nước. Mặc dù thanh khoản của hệ thống đã được cải thiện nhưng chưa vững chắc và chưa đồng đều, vẫn còn một số tổ chức tín dụng có khó khăn cục bộ tại một số thời điểm do tác động tâm lý khi chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2012 tăng cao nên chuẩn bị lo thanh khoản cho quý IV/2012.
Việc một số tổ chức tín dụng vượt trần lãi suất huy động có ảnh hưởng không thuận lợi đến diễn biến hoạt động thị trường tiền tệ và mặt bằng lãi suất, Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh, thành phố thực hiện giám sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định về lãi suất của các tổ chức tín dụng, có biện pháp xử lý, chấn chỉnh kịp thời các tổ chức, cá nhân vi phạm. Để ổn định mặt bằng lãi suất thị trường trong thời gian tới, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, đảm bảo an toàn và thanh khoản của các tổ chức tín dụng; tiếp tục thực hiện thanh tra giám sát, kiểm tra chấp hành lãi suất của các tổ chức tín dụng; phối hợp với các cơ quan báo chí và phương tiện thông tin đại chúng, ý kiến phản ánh của cử tri, người dân trong việc phát hiện và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
3. Về quản lý thị trường vàng:
Giai đoạn trước ngày 03/4/2012 (là thời điểm Nghị định 24/2012/NĐ-CP (Nghị định 24) ra đời), thị trường vàng Việt Nam biến động tương đối phức tạp và có yếu tố đầu cơ, khung pháp lý về hoạt động kinh doanh vàng của nước ta còn nhiều bất cập. Mặc dù, trong Luật Ngân hàng Nhà nước năm 1997 có quy định chức năng của Ngân hàng Nhà nước trong việc quản lý hoạt động kinh doanh vàng, nhưng tại các văn bản dưới luật (như Nghị định 174/1999/NĐ-CP ngày 9/12/1999 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng) thì lại không có các quy định quản lý, kiểm soát thị trường vàng miếng; vàng miếng được coi là hàng hóa thông thường. Do đó, trong nhiều giai đoạn, đặc biệt khi giá vàng thế giới biến động mạnh, nhiều đối tượng có hành vi làm giá, đầu cơ gây khan hiếm cung giả tạo, đồng thời tung tin đồn gây nên các “cơn sốt vàng” làm cho người dân đổ xô đi mua vàng. Sự mất cân bằng cung cầu trong thời gian ngắn làm cho giá vàng trong nước có mức chênh lệch lớn so với giá vàng thế giới. Khi giá vàng trong nước cao hơn giá vàng thế giới với mức chênh lệch khoảng 400 nghìn đồng/lượng, thường xuất hiện tình trạng nhập khẩu vàng lậu, từ đó gây ảnh hưởng bất lợi tới thị trường ngoại tệ, tỷ giá và kinh tế vĩ mô. Do đó, Ngân hàng Nhà nước phải can thiệp bình ổn thị trường vàng nhằm mục tiêu ổn định thị trường ngoại tệ và tỷ giá.
Trước bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước đã tham mưu và trình Chính phủ ban hành Nghị định 95/2011/NĐ-CP (Nghị định 95) ngày 20/10/2011 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và hoạt động ngân hàng, theo đó các hoạt động kinh doanh vàng trái phép sẽ bị cơ quan chức năng xử lý nghiêm khắc và ban hành Nghị định 24 để thay thế Nghị định 174/1999/NĐ-CP về quản lý thị trường vàng. Nghị định 24 được ban hành nhằm mục tiêu tổ chức, sắp xếp lại một cách căn bản thị trường vàng miếng, đảm bảo khả năng điều tiết, nâng cao vai trò quản lý thị trường của Nhà nước ở mức cao nhất.
Sau khi Nghị định 24 được ban hành, với sự kết hợp của Nghị định 95 và các biện pháp Ngân hàng Nhà nước đã triển khai thực hiện, thị trường vàng trong nước có nhiều chuyển biến đáng kể so với trước kia. Từ tháng 4/2012 đến nay, giá vàng trong nước vẫn cao hơn giá vàng thế giới, có thời điểm lên đến 3 triệu đồng/lượng, nhưng không như thời gian trước đây, khoảng cách lớn giữa giá vàng trong nước và giá vàng thế giới không đi kèm với hiện tượng “sốt vàng”, cũng như không kéo theo hiện tượng nhập lậu vàng qua biên giới. Nhờ đó, tỷ giá và thị trường ngoại tệ tương đối ổn định, không bị tác động tiêu cực bởi sự biến động của giá vàng. Như vậy, cùng với việc điều hành chính sách tiền tệ chặt chẽ, củng cố lòng tin vào giá trị của đồng Việt Nam, việc triển khai Nghị định 24 bước đầu đã đạt được các mục tiêu, định hướng quản lý của Nhà nước, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, không làm gia tăng lạm phát, đặc biệt là thị trường ngoại tệ và tỷ giá, do đó không nhất thiết phải tổ chức bình ổn giá vàng. Tình trạng “vàng hóa, đôla hóa” đã được ngăn chặn và bước đầu đã huy động được nguồn lực này, chuyển hóa thành VND đưa vào hệ thống ngân hàng, phục vụ sản xuất kinh doanh và tạo thanh khoản cho nền kinh tế trong thời gian khó khăn vừa qua.
Trong thời gian tới nhằm mục tiêu chuyển hóa quan hệ huy động, cho vay vàng sang quan hệ mua, bán vàng, đảm bảo các quyền hợp pháp của người dân đối với vàng miếng như mua bán, nắm giữ được bảo đảm an toàn thông qua dịch vụ giữ hộ của các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước sẽ tổ chức lại mạng lưới mua, bán vàng miếng thông qua việc cấp phép cho các tổ chức đáp ứng đủ điều kiện thực hiện kinh doanh mua, bán vàng miếng trên thị trường theo quy định tại Nghị định 24 và Thông tư 16/2012/TT-NHNN ngày 25/5/2012 của Ngân hàng Nhà nước. Việc mua, bán vàng miếng của người dân sẽ được thực hiện trên thị trường có tổ chức, giá vàng miếng sẽ được xác định dựa trên cơ sở cung cầu của thị trường.
Sau khi tổ chức tín dụng tất toán toàn bộ số dư huy động vốn bằng vàng, Ngân hàng Nhà nước sẽ đóng vai trò là người mua bán cuối cùng trên thị trường vàng miếng giữa các tổ chức được phép kinh doanh vàng miếng nhằm bảo tồn và tăng Dự trữ Ngoại hối Nhà nước bằng vàng và phù hợp với mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ. Đây là kênh huy động, chuyển hóa hiệu quả nguồn lực vàng phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế của đất nước.
Trên đây là ý kiến trả lời của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước về nội dung chất vấn của Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước mong tiếp tục nhận được sự quan tâm của Đại biểu Quốc hội đối với hoạt động ngân hàng.