Lược ghi tham luận của TS. Tạ Quang Tiến, \nCục trưởng Cục Công nghệ Tin học Ngân hàng tại Banking Vietnam 2006.
Để Ngân hàng Việt nam đủ sức đáp ứng nhu cầu phát triển nền kinh tế và hoà nhập kinh tế quốc tế, 7 vấn đề lớn cho đổi mới công nghệ Ngân hàng cho giai đoạn 2006-2010.
1. Hoàn thiện, mở rộng hệ thống kế toán khách hàng và hệ thống thanh toán điện tử LNH theo mô hình tập trung hoá tài khoản.
- Mô hình tập trung hoá tài khoản là xu thế thế giới, nó phù hợp với công nghệ hiện đại ë ViÖt Nam . Tổng số 56 ngân hàng thương mại (không tính Ngân hàng liên doanh và chi nhánh NH nước ngoài) mới chỉ có 8 ngân hàng xây dựng được hệ thống kế toán khách hàng “tập trung hoá tài khoản” hoạt động Online. Trong đó, chỉ có rất ít ngân hàng đã kết nối toàn hệ thống. Số còn lại, hoặc đang tiếp tục triển khai mở rộng, hoặc đang chuẩn bị triển khai.
Để có thể đứng vững trong cạnh tranh, hoà nhập kinh tế quốc tế các Ngân hàng cần phải nhanh chóng hiện đại hoá công nghệ theo hướng tập trung hoá tài khoản.
- Điển hình của mô hình này là tiểu dự án “Hệ thống Thanh toán điện tử liên Ngân hàng (TĐTLNH)” do NHNN chủ trì trong khuôn khổ Dự án “Hiện Đại hoá Ngân hàng và hệ thống thanh toán”. Nó là hệ thống thanh toán điện tử trực tuyến (Online) hiện đại, được xây dựng theo tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, hệ thống này mới chỉ có trong 5/64 Tỉnh, Thành phố, với lượng giao dịch chiến gần 50% thị phần về giao dịch của cả nước. Để phát triển phải xây dựng một hệ thống toàn diện, rộng khắp trên phạm vi cả nước. Và phía trước của tiến trình này là giai đoạn II của Dự án.
2. Luật hoá các hoạt động giao dịch điện tử.
Trên cơ sở Luật Giao dịch điện tử vừa được Quốc Hội ban hành, để hướng dẫn việc thi hành luật phải được hoàn thiện sớm Nghị định của Chính Phủ về “Giao dịch điện tử trong hoạt động ngân hàng” và các Nghị định liên quan đến các hoạt động giao dịch điện tử. Để hạn chế những rủi ro có thể xẩy ra, đảm bảo quyền lợi của Ngân hàng và khách hàng, cần sớm hoàn thiện và ban hành các văn bản pháp lý, qui chế nghiệp vụ áp dụng thống nhất cho toàn Ngành.
3. Mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.
Khối lượng tiền mặt trong lưu thông bình quân trong 4 n¨m (2002 ®Õn 2004) chiÕm kho¶ng 23,32 5% tæng ph¬ng tiÖn thanh to¸n. §©y lµ con sè ®¸ng quan t©m. V× thanh to¸n b»ng tiÒn mÆt lín sÏ cã nhiÒu ®iÒu bÊt lîi cho Nhµ níc.
Việc ứng dụng CNTT vào hoạt động và dịch vụ Ngân hàng ngày càng sâu rộng, nhưng phương thức thanh toán không dùng tiền mặt chưa t¨ng vµ c¸n c©n thanh to¸n b»ng tiÒn mÆt cßn cao.
4 nguyên nhân cơ bản:
- Chưa tạo được thói quen mới trong thanh toán hàng hoá và dịch vụ, chủ yếu vẫn sử dụng tiền mặt;
- Cơ sở pháp lý chưa điều chỉnh đồng bộ các thể thức thanh toán mới khi ứng dụng công nghệ;
- Hệ thống đầu cuối của các NHTM còn nhỏ lẻ, phân tán, không tiện dụng cho các pháp nhân và thể nhân sử dụng;
- Còn thiếu một tác nhân quan trọng là vai trò của Nhà nước, các cơ quan Nhà nước, công chức Nhà nước chưa thực sự vào cuộc.
4. Củng cố hệ thống máy ATM và đưa Séc vào hoạt động
◈- Củng cố, sắp xếp lại hệ thống máy ATM
Trong năm 2005, số lượng máy ATM và thẻ thanh toán của các Ngân hàng tăng đột biến, nhưng vẫn trong khuôn khổ phát triển đơn lẻ. Thiếu sự thống nhất. Vì: Thiếu một cơ chế chỉ đạo, điều hành; Thiếu một tổ chức có nhiệm vụ làm đầu mối tập hợp, vận động tham gia; Thiếu sự đồng thuận giữa các Ngân hàng, mạnh ai nấy lo và coi phát triển hệ thống ATM là vũ khí trong cạnh tranh. Điều này gây lãng phí.
Giải pháp để khắc phục:
- Thống nhất về chủ trương của lãnh đạo cấp cao giữa các Ngân hàng;
- Xây dựng một tổ chức cã kh¶ n¨ng thËt sù trong kÕt nèi, cã cơ chế hoạt động và cơ chế tài chính của tổ chức này;
- Đồng thuận về sự hợp tác, liên kết đôi bên cùng có lợi, tuân thủ các quy chế, quy định để phát triển tổ chức;
◈- Xây dựng trung tâm xử lý séc
Để triển khai thực hiện phương thức thanh toán Séc trong môi trường công nghệ thông tin phát triển, cần một số điều kiện về xây dựng một hệ thống cơ sở pháp lý đầy đủ, khả thi và được thí điểm ở một số địa phương trước khi thực hiện đại trà Thiết kế, xây dựng một hệ thống trung tâm xử lý Séc, một tổ chức đủ năng lực thực hiện thanh toán Séc và phát triển lâu dài trên cơ sở ứng dụng CNTT; Có cơ chế quy định cho các hình thức thanh toán bằng Séc, bằng chuyển khoản thay cho việc thanh toán tiền mặt hiện nay.
5. Đảm bảo an ninh, an toàn hệ thống thông tin Ngân hàng
Để đảm bảo an ninh, an toàn phải thực hiện một số biện pháp:
- Đầu tư thích đáng cho công tác an ninh, bảo mật (trên dưới 10%);
- Thường xuyên kiểm tra, đánh giá các rủi ro trong hệ thống thông tin;
- Xây dựng các phương án phòng chống các loại rủi ro và biện pháp khắc phục sau rủi ro;
- Xây dựng các quy định, quy chế bảo mật, an toàn thông tin và các hệ thống giám sát;
- Tăng cường trách nhiệm đối với cán bộ ngân hàng trong quá trình vận hành hệ thống mạng nghiệp vụ, hạn chế các rủi ro đạo đức do vi phạm các qui định.
- Phải xây dựng các trung tâm dự phòng thảm hoạ, đủ điều kiện hoạt động, không để xẩy ra rủi ro do bất kỳ một sự cố bất khả kháng nào đối với mạng nghiệp vụ ngân hàng;
6. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, chuẩn bị đầy đủ nhân lực cho khoa học Công nghệ;
Công tác đào tạo, bồi dưỡng được tập trung vào các đối tượng:
- Cán bộ Kỹ thuật đang hoạt động trong lĩnh vực CNTT (cập nhật thông tin);
- Cán bộ đang làm nghiệp vụ Ngân hàng, vì ngày nay, mọi lĩnh vực hoạt động Ngân hàng đã và đang tin học hoá sâu rộng;
- Học sinh, sinh viên mới được tuyển dụng.
- Các tỉnh, địa phương còn gặp nhiều khó khăn về phát triển công nghệ;
7. Vai trò của các chính sách về CNTT quốc gia.
Các chính sách quốc gia có sự tác động là:
- Định hướng, chính sách về phát triển CNTT quốc gia;
- Các quy định về nguồn vốn đầu tư cho khối các cơ quan Nhà nước và doanh nghiệp;
- Chính sách về cán bộ, thu hút nhân lực khoa học công nghệ và các công trình nghiên cứu khoa học;
- Chính sách về phát triển hạ tầng công nghệ, viễn thông: giá cước và dịch vụ...;
- Chính sách về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trước mắt cũng như lâu dài. (Vĩnh Sơn ).
(Cục Công nghệ tin học Ngân hàng)