Đỗ Văn
Để hội nhập kinh tế quốc tế, Ngân hàng Nhà nước Việt nam đã tích cực triển khai các hoạt động hợp tác với ASEAN, ASEM+3, APEC và các tổ chức đa phương, song phương khác nhằm hỗ trợ, học hỏi và chủ động trong tiến trình hội nhập, phát huy thế mạnh và vượt qua những thử thách của quá trình hội nhập. Mục tiêu tổng quát phát triển một hệ thống ngân hàng hiện đại, hoạt động an toàn và hiệu quả, đạt được những chuẩn mực quốc tế và khu vực.
Các ngân hàng thương mại Việt Nam đang tích cực củng cố, sắp xếp, lành mạnh hoá tài chính doanh nghiêp. Các yếu tố của hoạt động ngân hàng như lãi suất, tỷ giá dần dần mang tính thị trường, các tổ chức tín dụng (TCTD), NHTM được trở thành các đơn vị kinh tế tự chủ kinh doanh tiền tệ - ngân hàng theo cơ chế thị trường và lấy việc hoàn vốn, bảo đảm có lãi làm mục tiêu tồn tại của mình. Bằng việc đó, hệ thống ngân hàng đã góp phần một cách đắc lực vào sự nghiệp đổi mới nền kinh tế - xã hội và thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa phát triển như những năm vừa qua và đặc biệt giữ được sự ổn định vĩ mô, tạo thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế và xã hội.
Song song với việc xây dựng, mỗi NHTM đều có chiến lược xây dượng một Ngân hàng Thương mại hiện đại, trên nền tảng ứng dụng công nghệ tin học trong hạot động, tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật cho việc triển khai đa dạng các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng hiện đại, cung cấp các tiện ích mới thuận lợi cho người dân, cũng như cho doanh nghiệp. Nhận thức rõ yêu cầu đó, ngành Ngân hàng đã cố gắng ứng dụng Công nghệ tin học trong nhiều năm qua, đặc biệt là trong những năm gần đây với việc triển khai Dự án Hiện đại hoá Ngân hàng và Hệ thống thanh toá do Ngân hàng Thế giới tài trợ và việc các NHTM phải cơ cấu lại để đáp ứng nhu cầu hội nhập thì tốc độ và hiệu quả của việc ứng dụng CNTT đã đẩy lên một mức độ cao hơn. Các ngân hàng hiện nay đã sử dụng phổ biến máy tính, hầu hết các ngân hàng đã kết nối mạng máy tính trong hệ thống của mình để bảo đảm có thể quản lý tập trung các giao dịch và các hoạt động. Nhiều ngân hàng trong nước đã tham gia với hệ thống Thanh toán điện tử Liên Ngân hàng của NHNN và do đó đã tạo điều kiện cho việc luân chuyển vốn, thanh toán đạt tốc độ cao và dung lượng lớn chưa từng có. Các Các Ngân hàng Việt Nam đang phấn đấu đuổi kịp các ngân hàng tiên tiến trong việc đưa ra các tiện ích ngân hàng mới. Ví dụ như mở rộng việc sử dụng thẻ ngân hàng, Home Banking, Internet Banking v.v.. trong thanh toán. Các tiện ích ấy sẽ phát triển nhanh, góp phần nâng cấp hệ thống thanh toán ngân hàng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Vì công nghệ phát triển nhanh, nhiều ứng dụng trong hoạt động mà người dân chưa biết sử dụng nó, tuy số lượng này không nhiều. Ngay đội ngũ cán bộ lãnh đạo của các ban, ngành, cũng có không ít người chưa hình dung là Ngân hàng Việt Nam đã phát hành thẻ tín dụng, thẻ tiền mặt, thẻ ATM để có thể sử dụng tại nhiều nơi một cách thuận tiện. Thứ hai, phải nói rằng nền kinh tế xã hội của ta chưa cao, thu nhập thấp và tổ chức đời sống công cộng như hiện nay thì không phải những tiện ích đó đã hoàn toàn thuận lợi trong đời sống xã hội hàng ngày. Nhưng cũng phải thừa nhận một thực tế là các máy rút tiền ATM chưa được tiện lợi lắm, chưa kết nối được tất cả các máy ATM thành một hệ thống thống nhất, tạo thuận lợi cho người sử dụng. Vì vậy, việc kết nối chuyển mạch để dùng chung ATM, dùng chung các loại thẻ của các ngân hàng khác nhau cũng là một nội dung cho hoạt động công nghệ trong tương lai gần.
Thời gian qua, các ngân hàng thương mại Việt Nam (NHTMVN) đã có những bước phát triển vượt bậc về số lượng, quy mô, thực hiện tốt nhiệm vụ trung tâm thanh toán và dẫn vốn trong nền kinh tế, đáp ứng yêu cầu công cuộc đổi mới kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam trong quá trình đẩy nhanh tiến trình đàm phán và dự kiến trở thành thành viên WTO cuối năm nay khiến thương mại và đầu tư nước ngoài tăng nhanh, đồng thời dỡ bỏ gần như hoàn toàn rào cản tham gia cung cấp dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam đối với các ngân hàng nước ngoài vào năm 2010, ngoài việc thực hiện nghiệp vụ ngân hàng truyền thống như nhận tiền gửi, cấp tín dụng, thanh toán cho các nhà đầu tư, nhà xuất nhập khẩu hàng hoá, thực hiện dịch vụ cung cấp thông tin, tư vấn cho doanh nghiệp, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ cá nhân, hỗ trợ tín dụng dự án sản xuất hàng xuất khẩu... Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, ngành Ngân hàng nên chăng cần chú trọng thực hiện một số giải pháp sau:
Một là, tăng cường năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Nhà nước (NH TMNN) và ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) để đầu tư cơ sở hạ tầng công nghệ thanh toán. Đối với NH TMNN, đẩy nhanh tiến trình cổ phần hoá NH Ngoại thương Việt Nam, NH Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long và tiếp tục triển khai cổ phần hoá các NHTMNN còn lại, theo hướng cho phép các đối tác chiến lược nước ngoài mua cổ phần của NHTMNN để tranh thủ công nghệ và kỹ năng quản lý và kinh doanh hiện đại, nhằm nâng vốn tự có NHTMNN lên theo tiêu chuẩn quốc tế, đảm bảo nâng chỉ số vốn tự có trên tổng tài sản có rủi ro từ mức khoảng 3 - 4% hiện nay, lên trên 8% trong thời gian tới, đồng thời để thu hẹp khoảng cách về năng lực tài chính, công nghệ của NHTM Việt Nam với NHTM khu vực.
Đối với các NHTMCP, chủ động chọn thời điểm và hình thức tăng vốn trên cơ sở minh bạch thông tin hoạt động và kết quả kinh doanh, nâng cao chất lượng dịch vụ và an toàn trong kinh doanh để đẩy nhanh tiến độ tham gia niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, nhằm nâng uy tín trong kinh doanh đối với công chúng, có thể cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài khi mở cửa dịch vụ ngân hàng. Chật lượng hoạt động của các NHTMCP ngành càng được tăng cao, tỷ lệ nợ xấu giảm mức cho phép dưới 5%; tỷ lệ lãi trên vốn (ROE) đạt cao, khoảng 15 - 40%, điều đó đang hấp dẫn nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư tăng vốn.
Hai là, phát triển một số NHTM Việt Nam theo mô hình tập đoàn kinh tế đa năng ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, môi giới và kinh doanh chứng khoán, quản lý tài sản... trên cơ sở lựa chọn một số NHTM có quy mô lớn, đầu tư công nghệ hiện đại, đặc biệt các NHTMNN hiện nay đóng vai trò chủ yếu trong hệ thống về quy mô (chiếm 70 - 75% thị phần) và thế mạnh mạng lưới rộng khắp, mối quan hệ khách hàng truyền thống mật thiết, đặc biệt có uy tín cao.
Ba là, các NHTM Việt Nam cần chú trọng công tác đào tạo, bồi dưỡng cán các nghiệp vụ ngân hàng hiện đại trong nền kinh tế thị trường để đảm đương nhiệm vụ như bao thanh toán, hoán đổi lãi suất, hàng hoá, kinh doanh ngoại hối và chứng khoán và các công cụ phát sinh... đồng thời bồi dưỡng tác phong làm việc hiện đại để nâng cao chất lượng dịch vụ ngân hàng.
Bốn là, NHNN cần chú trọng công tác quản lý các chi nhanh ngân hàng nước ngoài theo hướng cấp phép hoạt động và mở rộng quy mô hoạt động trên cơ sở xem xét các điều kiện ràng buộc tài chính như yêu cầu bảo hiểm tiền gửi, đặt cọc tối thiểu nhằm một mặt tạo điều kiện cho các ngân hàng nước ngoài đa dạng hoạt động, mở rộng quy mô, thâm nhập sâu vào nền kinh tế Việt Nam, mặt khác hạn chế tác động xấu của việc chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải đóng cửa do ngân hàng mẹ ở nước ngoài gặp khó khăn về tài chính hoặc hành vi lừa đảo.
Thực tế mặc dù đã được Nhà nước “bơm” vốn tới 4 lần, nhưng tổng vốn điều lệ của các ngân hàng thương mại nhà nước tính đến đầu năm 2005 mới đạt khoảng 21.000 tỷ đồng, làm hạn chế khả năng huy động và cung ứng tín dụng cho toàn nền kinh tế. Dư nợ tín dụng mới đạt xấp xỉ 55% GDP, thấp xa so với mức trên 80% của các nước trong khu vực. Bình quân, mức vốn tự có của các ngân hàng thương mại nhà nước khoảng từ 200 đến 250 triệu USD, chỉ bằng một ngân hàng cỡ trung bình trong khu vực; còn lại hầu hết các ngân hàng cổ phần có mức vốn điều lệ bình quân chỉ khoảng từ 200 đến 300 tỷ đồng.
Một điểm yếu khác của hệ thống ngân hàng Việt Nam là chất lượng hoạt động. Hầu hết các ngân hàng thương mại đều có mức dư nợ không sinh lời lớn hơn giới hạn cho phép từ 1,5 đến 2,5 lần; khả năng thanh toán bình quân của các tổ chức tín dụng mới đạt xấp xỉ 60%. Tỷ lệ sinh lời bình quân trên vốn tự có của các tổ chức tín dụng hiện chỉ là 6% so với mức 13 - 15% của các ngân hàng thương mại ở các nước trong khu vực. Đặc biệt, tỷ trọng đầu tư tín dụng của khu vực các định chế tài chính phi ngân hàng (Kho bạc, các Quĩ hỗ trợ) mặc dù chiếm tới trên 34% tổng đầu tư toàn xã hội, nhưng hầu như nằm ngoài vòng kiểm soát của Ngân hàng Trung ương.
Dự kiến, đến giai đoạn 2010-2020, hệ thống ngân hàng Nhà nước phải đóng một vai trò nhất định trong khu vực và trên thị trường tài chính quốc tế. Một số Tập đoàn ngân hàng Việt Nam đã phải ở trình độ khá lớn mạnh và có ảnh hưởng trực tiếp đến nhịp điệu tài chính khu vực. Các cổ phiếu hoặc trái phiếu phát ra từ NHVN sẽ có mặt ở nhiều ngân hàng nước ngoài. Đồng tiền VN cần được cải cách mệnh giá và mở rộng được biên giới tự do chuyển đổi trong khu vực...
Ngân hàng Việt Nam cần phải nhanh chóng nâng cao năng lực tài chính và chất lượng tín dụng để tiếp cận theo các tiêu chuẩn quốc tế.
Chiến lược “tăng tốc” này, theo Ngân hàng Nhà nước, trước mắt sẽ là tập trung bổ sung thêm vốn cho các ngân hàng thương nhà nước để đến năm 2006 đạt tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 6% và năm 2010 đạt trên 8%, phù hợp với thông lệ quốc tế. Ngân hàng Nhà nước đặt mục tiêu, từ nay đến năm 2008, cổ phần hoá xong Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long, tiến tới cổ phần hoá tiếp các ngân hàng thương mại nhà nước khác, tạo điều kiện để các ngân hàng phát hành trái phiếu dài hạn nhằm thúc đẩy thị trường vốn. Bên cạnh đó, ngân hàng Nhà nước cũng đang khẩn trương rà soát lại hệ thống các cơ chế, chính sách trong lĩnh vực ngân hàng để bổ sung, hoàn thiện cho phù hợp với các cam kết hội nhập. Đường hướng mà Ngân hàng Trung ương nhắm tới sẽ là hạn chế dần và tiến tới xoá bỏ tình trạng bảo hộ, bao cấp của Nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng nhằm tạo lập môi trường kinh doanh bình đẳng; xây dựng cơ chế phối hợp giữa Ngân hàng Nhà nước với các bộ, ngành trong điều hành chính sách tiền tệ. Dự kiến, Luật Thanh toán sẽ được ban hành để tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động giao dịch, thanh toán của các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp cùng với việc xây dựng hệ thống cảnh báo những biến động bất thường về tỷ giá, lãi suất và tăng trưởng tín dụng của các tổ chức tín dụng. Bên cạnh đó đội ngũ cán bộ Ngân hàng phải được đào tạo nâng cao kỹ năng đánh giá các mô hình kinh doanh và khả năng sinh lời của dự án, từ đó dự đoán được mức độ rủi ro cho các khoản tín dụng một cách hợp lý.
Bức tranh toàn cảnh về sở hữu ngân hàng sẽ có những thay đổi căn bản khi Việt Nam gia nhập WTO bởi các tổ chức tài chính nước ngoài có thể nắm giữ cổ phần của các ngân hàng Việt Nam. Những ngân hàng yếu kém, quy mô nhỏ sẽ phải sáp nhập. Đặc biệt, việc xuất hiện các ngân hàng 100% vốn nước ngoài sẽ làm thay đổi mạnh cơ cấu thị phần tiền tệ.
(Cnth theo thnh)