Ngày 1/6/2006, Pháp lệnh Ngoại hối sẽ chính thức có hiệu lực thi hành. Thêm vào đó những biến động trên thị trường ngoại tệ ở thời điểm này khiến các đại biểu tham dự Hội thảo xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành Pháp lệnh ngoại hối (tổ chức tại Hà Nội ngày 10/5 vừa qua) không khỏi cảm thấy có sức ép lớn khi phải quyết định một số vấn đề còn mâu thuẫn.
Tinh thần chung của dự thảo Nghị định vẫn là trao quyền tự chủ cho các tổ chức tín dụng (TCTD). Song dường như các ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn rất e ngại.Vì cùng với quyền là trách nhiệm. Vì thế các NHTM muốn Ngân hàng Nhà nước (NHNN) có quy định cụ thể bằng hệ thống các chứng từ. Nhưng ông Trương Văn Phước - Vụ trưởng Vụ Quản lý ngoại hối, NHNN cho rằng đã đến lúc các NHTM phải tự chủ và tự chịu trách nhiệm.
Hầu hết các quy định trong dự thảo đều nhận được sự đồng tình của các đại biểu. Tuy nhiên với những điều khoản về giao dịch vốn và giao dịch vãng lai, vẫn còn nhiều ý kiến bất đồng. Theo dự thảo, việc quản lý các luồng vốn ngoại tệ đều dựa trên các tài khoản mà các chủ thể tham gia giao dịch mở tại các TCTD được phép hoạt động và cung ứng dịch vụ ngoại hối. Cụ thể, trong các giao dịch vãng lai tổ chức, cá nhân là người Việt Nam khi có nguồn thu ngoại tệ từ nước ngoài phải chuyển về qua tài khoản trong một thời gian nhất định. Ông Trịnh Công Thắng - Phó tổng giám đốc Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank) cho rằng, hiện có hàng ngàn doanh nghiệp có quan hệ thương mại quốc tế, vậy ai sẽ là người kiểm tra khi nào họ nhận được ngoại tệ? Và trách nhiệm của NHTM đến đâu khi doanh nghiệp không đảm bảo thời gian chuyển tiền về nước (30 ngày theo dự thảo)? Bà Thiên Hương - Phó tổng giám đốc Ngân hàng TMCP Kỹ Thương (Techcombank) lại cho rằng: không cần quy định số ngày cụ thể. Vấn đề là nếu doanh nghiệp vay tiền ngân hàng thì ngân hàng phải đốc thúc họ chuyển tiền về nước để trả nợ. Nếu không, bản thân doanh nghiệp cũng phải chuyển tiền về để tiếp tục chu kỳ kinh doanh mới. Bà Hương cũng cho rằng, cần đưa các nghiệp vụ phái sinh của ngân hàng có liên quan đến ngoại hối như: option, future,… vào khung điều chỉnh của Nghị định.
Đối với các giao dịch vốn, nhà đầu tư nước ngoài được sử dụng đồng Việt Nam trên tài khoản vốn đầu tư gián tiếp để mua ngoại tệ tại các TCTD và phải chuyển ngay ra nước ngoài. Còn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được quản lý qua tài khoản ngoại tệ mở tại TCTD trong nước. Như vậy, qua các tài khoản này TCTD sẽ nắm được lượng vốn đầu tư và khả năng lượng vốn sẽ được chuyển đổi ra ngoại tệ.
Việc chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài của các cá nhân, pháp nhân là vấn đề mới. Nhưng theo các nhà hoạch định chính sách thì với xu hướng toàn cầu hóa vấn đề này sẽ trở nên phổ biến trong tương lai. Thực tế, hiện có một số đơn vị đang làm thủ tục để phát hành chứng khoán cũng như đầu tư ra nước ngoài như Vinamilk, Vietcombank… Nguồn vốn này sẽ được quản lý qua tài khoản vốn phát hành chứng khoán. NHNN cũng đã tính đến trường hợp nhà đầu tư trong nước đầu tư gián tiếp ra nước ngoài qua thị trường chứng khoán. Theo đánh giá của ông Phước, hoạt động này chứa đựng nhiều rủi ro nên NHNN sẽ có thông tư hướng dẫn cụ thể về đối tượng, điều kiện tham gia hình thức đầu tư này. Để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư mở rộng làm ăn ra nước ngoài, dự thảo Nghị định cũng có quy định cho phép các cá nhân, tổ chức có quyền sử dụng nguồn ngoại tệ tự có hay từ nguồn đi vay để đầu tư ra nước ngoài. Nới lỏng hơn nữa, Nghị định còn cho phép các cá nhân cũng được vay vốn nước ngoài nhưng phải đăng ký với NHNN.
Đối các doanh nghiệp nước ngoài khi muốn phát hành chứng khoán ở Việt Nam họ phải phát hành bằng đồng Việt Nam . Sau đó nhà phát hành có thể chuyển thành ngoại tệ để mang ra khỏi lãnh thổ Việt Nam trong thời hạn nhất định. Sở dĩ quy định như vậy là để giảm dần tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế. Nhưng trong thời hạn nhất định là bao lâu? Có ý kiến cho rằng không nên quy định cụ thể. Vì ngoại tệ mạnh ở trên lãnh thổ Việt Nam càng lâu càng tốt. Nhưng cũng có ý kiến cho rằng nếu không có quy định cụ thể thì rất khó quản lý. Vì trong thời gian chờ chuyển ra (không xác định cụ thể), có thể người sở hữu sẽ mang đầu tư cho mục đích khác thì sẽ rất khó khăn trong công tác quản lý.
Hiện còn một vấn đề gây nhiều tranh luận là nên hay không cho phép liên thông giữa các tài khoản vốn đầu tư trực tiếp và gián tiếp? Nhiều ý kiến cho rằng việc liên thông giữa các tài khoản sẽ là tất yếu trong điều kiện thanh toán liên ngân hàng rất phổ biến hiện nay. Song cũng có ý kiến cho rằng sự chuyển dịch quá linh hoạt của các khoản ngoại tệ này sẽ gây khó khăn, phức tạp trong công tác quản lý.
Được biết dự thảo cuối cùng sẽ được lãnh đạo NHNN thông qua trong tháng 5/2005 trước khi trình Chính phủ ban hành chính thức.
Kiều Vân