Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) Rodrigo De Rato cùng phái đoàn của ông đã tới Hà Nội trong các ngày 25-26/6/2004. Việt Nam là một phần trong chương trình viếng thăm Châu á lần đầu tiên của ông (bao gồm các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Singapore, Việt Nam...) kể từ khi ông đứng trên cương vị Tổng giám đốc IMF vào ngày 7/6/2004 Ngày 26/6/2004, Tổng giám đốc IMF và phái đoàn đã có buổi làm việc với Lãnh đạo NHNN Việt Nam.\nNội dung buổi làm việc bao gồm nhiều vấn đề: thế nào là chỉ số lạm phát hợp lý, ảnh hưởng của giá nhiên liệu tăng đối với kinh tế thế giới, đồng Nhân dân tệ có ảnh hưởng gì đến kinh tế khu vực và góp ý với NHNN về chính sách tiền tệ cũng như việc cổ phần hoá một số NHTM Nhà nước ở Việt Nam. Minh Khuê (lược ghi).
Thực tế, giá nhiên liệu tăng không ảnh hưởng nhiều lắm đến nền kinh tế thế giới, do trong vòng 15 năm qua, các nước phát triển đã nỗ lực phát minh, phát triển những công nghệ và kỹ thuật tiết kiệm năng lượng hoặc sử dụng năng lượng thay thế. Điều này, khiến cho việc tăng giá nhiên liệu không tạo ra khủng hoảng, hoặc những cú sốc nghiêm trọng như tình hình đã xảy ra vào những thập niên 70-80 của thế kỷ trước.
Nhật Bản là một ví vụ. Quốc gia này sử dụng nhiều nhiên liệu và vật liệu cơ bản nhập khẩu. Như đã nói ở trên, nhờ những cải tiến lớn về công nghệ và các chương trình tiết kiệm nhiên liệu hiệu quả, vì vậy giá cả nhiên liệu tăng không ảnh hưởng xấu lắm đến kinh tế Nhật Bản. Chương trình cải cách cơ cấu của kinh tế Nhật Bản cũng đã gặt hái được những thành quả quan trọng, hệ thống tài chính được cải thiện, môi trường kinh doanh lành mạnh, tiêu dùng của dân cư tăng đã giúp nền kinh tế phục hồi. Nhiều năm trước, kinh tế Nhật Bản trì trệ, chỉ số lạm phát rất thấp, thậm chí âm, vì vậy giá nhiên liệu, vật liệu cơ bản tăng cũng chỉ đủ làm cho chỉ số lạm phát trở lại mức bình thường, có lợi cho phục hồi kinh tế.
Nói chung, đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, lạm phát ở mức dưới 5% chút ít là vừa phải. Còn đối với các nước phát triển, lạm phát ở mức dưới 2% là chấp nhận được. Chỉ số giá cả ở Việt Nam hiện nay là hơi cao, bất luận là vì lý do gì. Điều này cũng ảnh hưởng đến người nghèo, đến thu hút đầu tư nước ngoài. Nếu quá 10% (hai con số) sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu quả đầu tư và khả năng lựa chọn của người tiêu dùng, vì công ăn việc làm sẽ giảm sút và thu nhập thực tế sẽ thấp. Hơn nữa, để chống lạm phát, cần phải neo giữ tỷ giá hối đoái. Việc neo giữ tỷ giá đã là khó khăn, nhưng đến khi cần nhấc bỏ neo này còn khó khăn hơn nhiều, và hệ quả đôi khi rất xấu.
Việt Nam đã mất nhiều năm để tạo lập lòng tin của công chúng và nhà đầu tư (kể cả đầu tư nước ngoài) đối với đồng tiền Việt Nam. Vì thế, Chính phủ cần phải làm mọi cách để giữ vững lòng tin đó.
Đúng là trước đây ở Trung Quốc có quan điểm duy trì lạm phát cao hợp lý để kích thích tăng trưởng qua tham khảo mô hình Trung Quốc và vào thời điểm đó, Trung Quốc chưa mở cửa kinh tế như hiện nay. Tuy nhiên, hậu quả của lạm phát cao như vậy không nhỏ đối với Trung Quốc, trước hết là nợ quá hạn (nợ xấu) của các ngân hàng thương mại vì vậy (và cả những lý do khác nữa) trở nên rất lớn mà đến nay chưa thể giải quyết nổi. Khu vực doanh nghiệp nhà nước gặp khó khăn nghiêm trọng, và đặc biệt là tình trạng thất nghiệp gia tăng đã tạo ra nhiều căng thẳng xã hội vào những năm đó.
Mấy năm gần đây, lạm phát ở Trung Quốc rất thấp. Tuy nhiên, 6 tháng đầu năm 2004, chỉ số giá cả ở Trung Quốc đã là 4,5%, khiến Chính phủ nước này rất quan ngại, và họ đang tìm cách kiểm soát tốt hơn lạm phát. Ví dụ, họ quyết định giảm bớt tăng trưởng nóng của nền kinh tế.
Vấn đề không phải là đồng tiền bị đánh giá thế nào mà chủ yếu là chế độ tỷ giá hối đoái của Trung Quốc cần được tự do hoá hơn. Điều này rất quan trọng ngay cả đối với kinh tế Trung Quốc khi đã mở cửa. Nếu không, những cú sốc kinh tế từ bên ngoài có thể làm đổ bể hệ thống tài chính vốn đang rất yếu, đầu tư nước ngoài sẽ giảm sút đột ngột, và kinh tế nước này sẽ gặp khó khăn lớn. Đương nhiên, khó khăn kinh tế của Trung Quốc ngày nay sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến kinh tế của các quốc gia trong khu vực và thế giới.
Kinh tế Châu á vốn là khu vực phát triển năng động và phục hồi nhanh chóng kể từ sau khủng hoảng khu vực. Sự phục hồi của kinh tế thế giới và đặc biệt là Nhật Bản với tư cách là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới đang tạo ra nhiều cơ hội thuận lợi cho nền kinh tế Châu á. Điều mà Chính phủ các nước trong khu vực cần quan tâm đặc biệt là hệ thống tài chính (ngân hàng), trước hết là vấn đề nợ xấu, chất lượng tài sản và khả năng xử lý các rủi ro tài chính
Việt Nam cần hạn chế tốc độ tăng trưởng tín dụng nóng ở mức hợp lý nhằm kiểm soát được rủi ro tín dụng và việc phát sinh hơn nữa nợ xấu. Việc cổ phần hoá một số ngân hàng thương mại nhà nước như quyết định của Chính phủ nên có sự tham gia của các đối tác chiến lược là các ngân hàng tốt của nước ngoài ở mức có thể cải thiện đáng kể năng lực kiểm soát và quản lý các ngân hàng thương mại Việt Nam.