Hiện đã có 10 bộ hồ sơ xin thành lập ngân hàng "xếp hàng" tại Ngân hàng Nhà nước; trong đó có ít nhất ba bộ hồ sơ của các tập đoàn và cả hiệp hội ngành nghề. Lợi nhuận vượt trội của các ngân hàng (NH) năm 2006; giá cổ phiếu NH luôn nằm ở hạng top... khiến người ta nhìn nhận NH như một ngành kinh doanh béo bở...
Những lầm tưởng nghiêm trọng
Theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ, một NH mới thành lập từ năm 2008 phải có vốn điều lệ ít nhất 1.000 tỷ đồng và đến năm 2010 là 3.000 tỷ đồng. Dự thảo quy chế thành lập NH mới của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cũng có không ít điều kiện khá khắt khe: NH xin thành lập phải có ít nhất 100 cổ đông tham gia; trong đó có 3 cổ đông sáng lập là pháp nhân. Và các pháp nhân này đã có thời gian hoạt động ít nhất là 5 năm với tổng tài sản tối thiểu 2.000 tỷ đồng, vốn chủ sở hữu tối thiểu 500 tỷ đồng… Các cổ đông sáng lập phải mua ít nhất 50% tổng số cổ phần phổ thông được quyền chào bán và không được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập trong thời hạn 5 năm kể từ ngày NH nhận được giấy phép và hoạt động… Ngay cả với một số NHTMCP đang hoạt động thì việc nâng vốn điều lệ theo quy định của Nghị định 141/2006/NĐ-CP là một cuộc đua khá vất vả. Song lãnh đạo của một tập đoàn đang có hồ sơ xin thành lập NH cho rằng, các điều kiện này… không thành "vấn đề" đối với họ!
Trong hồ sơ xin thành lập NH, tập đoàn nào cũng cố gắng đưa ra những lý do thuyết phục về nhu cầu sử dụng vốn; triển vọng phát triển của tập đoàn hay tiềm năng huy động vốn; ưu thế cho vay trong nội bộ sẽ góp phần làm giảm chi phí vốn… Song, Vụ trưởng Vụ Chiến lược Phát triển Ngân hàng (NHNN) Lê Xuân Nghĩa cho rằng, đó là những "lầm tưởng nghiêm trọng". Thực tế cũng cho thấy, kinh doanh NH là nghề đòi hỏi phải có những kiến thức, kỹ năng nhất định. Sự đổ vỡ của hệ thống các hợp tác xã tín dụng cuối những năm 80 của thế kỷ trước là một bài học đắt giá.
Có thể thấy, một trong mười sự kiện nổi bật của ngành NH năm 2006 là lợi nhuận vượt trội của các NHTMCP. Nhưng nếu nhìn vào con số 53 NHTMCP được cấp phép nay chỉ còn 36 NH hoạt động; và có không ít NHTMCP hiện đang nằm ở hạng "top" đã từng không hề chia lợi tức cổ đông trong suốt 5-10 năm, thì sẽ thấy để có được thành tích này họ đã phải trả giá như thế nào. Một cán bộ quản lý cấp cao của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam than phiền: Ở Việt Nam làm gì cũng thấy mang tính phong trào, việc thành lập ngân hàng cũng vậy. Mấy năm gần đây sự phát triển của nền kinh tế đã tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động NH. Nhưng kinh doanh trong lĩnh vực NH luôn tiềm ẩn rủi ro mà không phải ai cũng có khả năng quản trị tốt.
…Và rủi ro "kép"
Công bằng mà nói, việc các tập đoàn muốn thành lập NH cũng là dễ hiểu vì hoạt động "khép kín" dường như sẽ thuận lợi hơn. Tuy nhiên, theo các chuyên gia kinh tế, việc thành lập NH cho một tập đoàn sẽ tiềm ẩn những nguy cơ sau:
Thứ nhất, vì là hoạt động mang tính nội bộ nên dễ dẫn đến tình trạng các doanh nghiệp (DN) trực thuộc tập đoàn và NH của tập đoàn sẽ "nuôi" lẫn nhau khiến tính cạnh tranh của từng chủ thể kinh doanh trong tập đoàn đều giảm. Chỉ cần sự đồng ý của ban lãnh đạo, nhu cầu vốn của DN trực thuộc sẽ được đáp ứng mà yếu tố lãi suất, điều kiện vay vốn sẽ bị xem nhẹ. Mà lẽ thường, được vay vốn dễ dàng thì DN sẽ sử dụng không hiệu quả. "Sự thất bại của DN sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến NH, và có thể làm sụp đổ cả tập đoàn. Đó là rủi ro kép” - ông Lê Xuân Nghĩa cảnh báo. Thứ hai, các tập đoàn cho rằng, khi thành lập NH riêng họ có thể tự đáp ứng được một phần nhu cầu vốn với chi phí thấp hơn so với chi phí đi vay hiện nay. Nhưng thực tế không hẳn như vậy. Bởi để làm được điều đó, các ngân hàng phải đáp ứng nhiều điều kiện: uy tín, hệ thống chi nhánh, đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp… Đây là những điều kiện mà không phải ngân hàng nào cũng có được, đặc biệt là các ngân hàng mới thành lập. Như vậy chi phí vay vốn của tập đoàn từ ngân hàng của họ chưa hẳn đã thấp hơn việc đi vay của các NHTM khác. Trong trường hợp ngân hàng của tập đoàn huy động vốn từ chính tiền nhàn rỗi của các DN thành viên thì hoạt động mang tính khép kín này sẽ không minh bạch, khó kiểm soát và có thể dẫn đến rủi ro rất lớn. Thứ ba, NH là ngành kinh doanh nhạy cảm, cần có sự giám sát đặc biệt. Một tập đoàn tài chính thuần tuý (bao gồm chứng khoán, bảo hiểm, NH) thì có cùng chuẩn mực để thanh tra, giám sát. Nếu tập đoàn gồm thương mại, công nghiệp, dịch vụ, NH thì không thể giám sát từ xa theo chuẩn mực của Camel. Tiến hành thanh tra, giám sát riêng thì cũng khó tìm thấy các luồng tài sản "lẩn" sang nhau giữa các ngành kinh doanh của tập đoàn. Không thể làm rõ các luồng tài sản là điều tối kỵ trong hoạt động kinh doanh ở các nước tiên tiến. Mặt khác, NH và những lĩnh vực kinh doanh khác của tập đoàn sẽ không thể có cùng chiến lược phát triển nên rất khó khăn trong điều hành… Phải chăng mô hình tập đoàn công nghiệp-tài chính đã trở nên không còn phù hợp trước sự phát triển như vũ bão và ngày càng trở nên dễ bị tổn thương của hệ thống tài chính-ngân hàng?
Thuận An