Cuối tháng 8 vừa qua, GIC - quỹ đầu tư quốc gia của Singapore - đã ký bản thoả thuận ghi nhớ mua 7,73% cổ phần của Vietcombank.
Đong, đếm với ngân hàng Việt
Đối tác ngoại luôn cân nhắc kỹ khi bỏ vốn vào NH nội
THANH HUYỀN
Tổ chức xếp hạng tín nhiệm Fitch Ratings mới đây đánh giá hiệu suất kinh tế mạnh mẽ đang là lực đỡ thu hút vốn nước ngoài vào hệ thống NH trong nước. Nhưng mặt khác, theo một số chuyên gia, các nhà đầu tư ngoại cũng có sự cân nhắc nhất định khi rót vốn vào NH Việt. Vậy, ngoài các yếu tố về thị phần, năng lực quản trị, khả năng sinh lời... thì đâu mới là điều quan trọng để hấp dẫn các nhà đầu tư ngoại?
Chọn mặt gửi vàng
Cuối tháng 8 vừa qua, GIC - quỹ đầu tư quốc gia của Singapore - đã ký bản thoả thuận ghi nhớ mua 7,73% cổ phần của Vietcombank. Trước đó, vào cuối tháng 7, Vietcombank và Mizuho Bank (Nhật Bản) đã ký biên bản ghi nhớ về việc tiếp tục quan hệ đối tác chiến lược giữa hai bên với việc duy trì sở hữu 15% vốn cổ phần của Mizuho tại Vietcombank. Và không chỉ có Vietcombank có “quan hệ tốt” với các đối tác ngoại, TPBank cũng nhận được 18,3 triệu USD từ IFC để mua gần 5% cổ phần của NH này.
Đánh giá về các động thái tích cực từ sự “bắt tay” giữa các NH nội và đối tác ngoại nêu trên, theo Fitch Ratings, đây là dòng vốn cần cho các NH Việt Nam triển khai và đáp ứng các tiêu chuẩn của Basel II vào cuối năm 2018, cũng như nhu cầu tăng vốn để mở rộng hoạt động tín dụng...
Nhìn trên tổng thể chuyện các nhà băng Việt hút vốn ngoại, có thể nhận thấy dễ dàng đối tác chiếm “thế thượng phong” hơn cả là Nhật Bản. Ngoài Vietcombank và mối quan hệ hợp tác với Mizuho Bank, VietinBank cũng đã bán 20% cổ phần cho Bank of Tokyo Mitsubishi UFJ; Sacombank ký biên bản ghi nhớ về hợp tác với 3 NH trực thuộc Resona Holdings - Nhật Bản là Resona Bank, Saitama Resona Bank và The Kinki Osaka Bank…
Tại sao lại là Nhật Bản? Lý giải điều này, chuyên gia tài chính - NH, TS. Nguyễn Trí Hiếu cho rằng: Việc các NH Nhật có vẻ “mặn mà” với thị trường Việt Nam có hai lý do. Thứ nhất, các nhà đầu tư Nhật khá am hiểu thị trường Việt Nam, cộng thêm văn hoá giữa hai quốc gia Á Đông có sự gần gũi nên họ cảm thấy thoải mái với việc mở rộng hoạt động của mình tại Việt Nam. Thứ hai, các NH Nhật chủ yếu theo chân những khách hàng của họ tại Việt Nam. Những khách hàng truyền thống như các hãng Toyota, Honda, Mitsubishi... có sự hiện diện lâu năm ở Việt Nam, từ đó kéo theo các NH Nhật gia nhập vào nước ta.
Vì mong muốn đồng vốn được đưa vào các NH hoạt động ổn định, có chất lượng… như ở nước bản địa, theo ông Hiếu, không chỉ riêng Nhật Bản, mà các đối tác ngoại khác chủ yếu nhắm vào các NH lớn, chứ ít nhìn sang các NH hạng trung.
Đồng quan điểm với TS. Hiếu, một chuyên gia tài chính khác cũng cho rằng, dù thị trường Việt Nam nhiều tiềm năng, cơ hội, nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn khá thận trọng, cân nhắc để “chọn mặt gửi vàng”. Chính vì vậy, lựa chọn những NH lớn tại Việt Nam, các đối tác nước ngoài đều xét trên quy mô, tiềm lực tài chính, khả năng quản trị, lợi nhuận...
Đòi hỏi cao về tính minh bạch
Việc hội nhập sẽ làm tăng và làm giàu thêm cơ hội để thu hút vốn ngoại của NH Việt. Nhưng nếu xét “chặt chẽ”, TS. Nguyễn Trí Hiếu lại có nhận định rằng các nhà đầu tư nước ngoài hiện nay chưa hẳn đã hào hứng với việc bỏ vốn vào hệ thống NH Việt. Lý giải thêm, ông nêu ra thực tế trong thời gian 10 năm qua, đã có không ít trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài rút ra, thoái vốn khỏi NH Việt Nam. Hay việc một số NH nước ngoài đóng cửa chi nhánh, văn phòng đại diện tại nước ta.
Vị chuyên gia này cho rằng, điều bất lợi để các nhà đầu tư ngoại thận trọng đầu tiên nằm ở quy định pháp lý. Hiện nay, các nhà đầu tư nước ngoài chỉ có thể đầu tư vào một NH không quá 30% vốn điều lệ, với nhà đầu tư riêng lẻ là không quá 20%. Và với tỷ lệ phần trăm vẫn còn khiêm tốn, thì chưa thể khẳng định nhà băng Việt hấp dẫn với đối tác ngoại.
Ông Hiếu chia sẻ ý kiến trong việc làm sao để tận dụng nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài: “Có lẽ phải nới rộng ra tỷ lệ góp vốn của họ, lên tới mức ít nhất 49% trong vòng 2 năm tới”.
Với trường hợp tham gia cơ cấu lại TCTD yếu kém, Chính phủ sẽ quyết định tỷ lệ sở hữu cổ phần của một tổ chức nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài, có thể bán 100% cổ phần của những NH này để tái cấu trúc. Đây có thể là cơ hội cho các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước. Nhưng nếu xét trong quan hệ mua - bán, cả hai bên đều phải thật sự thấy mình có lợi thì giao dịch mới có hiệu quả.
Thực tế, tâm lý của người đi mua, ở đây là nhà đầu tư ngoại, sẽ khó “thuận lòng” khi ôm về mình một NH yếu kém, đặc biệt khi không nắm đủ số cổ phần chi phối để tham gia vào các quyết định quan trọng. Trong khi đó, gánh nặng về tái cơ cấu, cải thiện nguồn lực, xử lý nợ xấu... là những thách thức có thể nhìn thấy được.
Thừa nhận điều này, lãnh đạo một NHTM cũng bày tỏ, một trong những vấn đề còn vướng mắc của hệ thống NH Việt Nam hiện tại là nợ xấu. Đây cũng là nguyên nhân lớn tác động tới tâm lý “e ngại” của các nhà đầu tư nước ngoài.
Nhưng trong khi chưa thể tham gia sâu vào sở hữu các NH Việt, các chuyên gia kinh tế đều đồng tình với việc minh bạch hoá của các NHTM và trong hệ thống NH là vấn đề lớn quyết định tới sức cạnh tranh trên thị trường và sự thu hút với các đối tác. Vấn đề minh bạch hoá từ báo cáo thường niên của các NH, cho tới những thuyết minh trong báo cáo tài chính, công bố thông số nợ xấu, giải trình khoản dự thu, phải thu... phải được rõ ràng, minh bạch mới tạo ra sự tin tưởng của các nhà đầu tư cả trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó, điểm gây chú ý với các tổ chức nước ngoài còn liên quan tới xếp hạng tín nhiệm quốc gia. Việt Nam đang được xếp hạng tín nhiệm bởi ba công ty Fitch Ratings, Moody’s và Standard & Poor’s (S&P). Các nhà đầu tư có ý định thâm nhập thị trường Việt Nam đều có động thái đầu tiên là xem chỉ số xếp hạng tín nhiệm do ba công ty này công bố. Xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam hiện đã được S&P nâng lên “ổn định” từ mức “tiêu cực” trước đó. Xếp hạng tín nhiệm quốc gia có thay đổi tích cực, thì điểm tín nhiệm của hệ thống NH Việt mới có cơ hội cải thiện. Một trong những tín hiệu đáng mừng là việc Moody’s ngày 5/9 tuyên bố xem xét nâng xếp hạng tín nhiệm của bảy NHTM Việt Nam.
Có thể nói rằng, minh bạch hoá hệ thống NH sẽ tác dụng tích cực tới việc nâng cao xếp hạng tín nhiệm của NH Việt Nam. “Vấn đề tái cơ cấu phải mạnh dạn hơn nữa trong việc loại trừ lợi ích nhóm, sở hữu chéo”, ông Hiếu nhấn mạnh. Bên cạnh đó, Basel II cũng phải được khẩn trương áp dụng tại Việt Nam để làm cơ sở gia tăng niềm tin ở các nhà đầu tư ngoại.
Box: TS. Võ Trí Thành, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia
Xét chung hệ thống, phải có những cân nhắc
Có 3 lý do thúc đẩy hoạt động mua cổ phần (CP) tại NH Việt Nam của nhà đầu tư (NĐT) ngoại. Thứ nhất là triển vọng kinh tế tiềm năng, gắn với cam kết cải cách kinh tế hội nhập của Việt Nam. Thứ hai, bản thân tính minh bạch, chiến lược cũng như tính chuyên nghiệp của một số NHTM Việt Nam cũng tốt hơn. Biểu hiện rõ nét qua đánh giá xếp hạng tín nhiệm của các NH Việt Nam tăng lên; một số NH đang nâng lên áp dụng chuẩn Basel II. Thứ ba là mặc cả trong đàm phán đang có ít nhiều thuận lợi nhất định cho NĐT nước ngoài. Vì các NH Việt Nam đang cần tăng vốn, lành mạnh hóa tài chính, đáp ứng thông lệ quốc tế.
Có ý kiến cho rằng yếu tố vĩ mô kéo NĐT nước ngoài quay trở lại đầu tư tại NH Việt Nam. Theo tôi đó không phải yếu tố quan trọng. Sự minh bạch của các định chế tài chính mới là yếu tố quan trọng nhất tác động đến quyết định của NĐT khi mua CP. Trong sự minh bạch đó, ngoài hiện trạng, các NĐT muốn soi xét cả xu hướng, chiến lược phát triển của NH gắn với cam kết cải cách. Tất nhiên là không phải bước đi nào của các NH cũng “tròn trịa” và NĐT cũng thừa biết điều này. Tuy được nâng hạng đôi chút nhưng cũng phải thẳng thắn thừa nhận nếu NĐT không nhìn vào tiềm năng, triển vọng phát triển của nền kinh tế thì với mức xếp hạng hiện tại của các NH Việt Nam chưa chắc họ đã đầu tư.
Chúng ta đều biết rằng, việc NĐT ngoại tham gia vào hoạt động của NH có nhiều tác động tích cực: tăng năng lực vốn; cải thiện vấn đề công nghệ, quản trị; tăng sức cạnh tranh cho từng NH. Nhưng nhìn tổng thể cho cả hệ thống, việc mở cửa và duy trì vai trò của khối ngoại tại các NH là bài toán lớn không chỉ ở Việt Nam. Cái lý của nó là ở thời điểm, điều kiện bình thường rất tốt. Nhưng với những cú sốc khủng hoảng tài chính có thể chứng kiến sự sụp đổ hệ thống tài chính, kéo theo hệ lụy rất nghiêm trọng cho nền kinh tế. Vì thế, kinh nghiệm trên thế giới để hạn chế những thiệt hại lớn cho nền kinh tế thì kiểm soát hoạt động của các định chế tài chính rất quan trọng. Dù việc mở cửa rất cần thiết nhưng xét chung cho hệ thống thì phải có những cân nhắc.
Theo quan điểm của tôi, xét trên tổng thể vẫn cần những định chế tài chính mà chủ sở hữu trong nước giữ vai trò quan trọng. Nhưng cũng có thể cho phép các định chế tài chính nước ngoài được sở hữu 100% vốn tại NH Việt Nam. Có nghĩa là xét từng trường hợp, chứ không nên nới room chung cho tất cả các NH. Các NĐT ngoại vào đầu tư cũng phải chấp nhận đánh đổi nhất định. Không phải NH nào tốt cũng chờ sẵn họ.
PGS-TS. Nguyễn Thị Mùi, Thành viên Hội đồng tư vấn chính sách tài chính tiền tệ quốc gia
Minh bạch để củng cố niềm tin NĐT
Hoạt động hút vốn ngoại của các NH Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn, theo tôi đến từ cả hai phía. Chúng ta đều biết, trong năm 2015 và 8 tháng đầu năm 2016 rất nhiều NH muốn tăng vốn. Nhưng điều này không hề dễ dàng vì nhiều lý do.
Ví như, việc đi tìm các NĐT lớn trong nước thời điểm này để phát hành bán cổ phiếu thu về khoản vốn kha khá cho mục tiêu tăng năng lực tài chính của NH rất khó khăn. Còn phát hành CP cho NĐT nhỏ lẻ hay cổ đông hiện hữu không đáng kể. Mà yêu cầu tăng năng lực tài chính giúp NH tăng hệ số an toàn vốn là vấn đề mấu chốt nhất mà các NH cần tuân thủ để đáp ứng chuẩn Basel II. Thời gian để áp dụng các chuẩn mực quốc tế lại đang cận kề rồi. Đối với các NH có yếu tố Nhà nước, trong điều kiện ngân sách hạn hẹp khó có thể bổ sung vốn đầu tư.
Trước bối cảnh như vậy, cho dù các NH lớn, nhỏ, có yếu tố nhà nước hay cổ phần đều phải trông chờ vào khoản huy động từ các NĐT, nhất là sự tham gia NĐT nước ngoài có nhiều “tiền tươi thóc thật”. Giả dụ như tại Vietcombank, Quỹ đầu tư GIC của Singapore sẽ mua 7,73% vốn, tương ứng trên 300 triệu CP. Theo đó, Vietcombank thu được khoản tiền khá lớn mà nếu gọi vốn trong nước sẽ phải rất chật vật mới có thể bán hết từng đấy CP.
Còn về phía NĐT nước ngoài, mục tiêu của họ là tìm kiếm lợi nhuận. Theo đó, họ sẽ xem xét thị trường nào có tiềm năng, mang lại lợi nhuận để đầu tư. Thị trường Việt Nam vẫn đánh giá mức độ rủi ro cao, nhưng với những NĐT biết phán đoán, phân tích, đặt vốn vào đúng chỗ thì lợi nhuận kiếm được không hề nhỏ. Thông thường, lợi nhuận cao đi kèm rủi ro lớn, và NĐT chấp nhận mạo hiểm đầu tư.
Việc thu hút được vốn ngoại, ở khía cạnh nhất định các ngân hàng cổ phần có lợi thế vì năng động, linh hoạt, sáng tạo hơn các NH có yếu tố Nhà nước. Nhưng điều các NĐT nước ngoài quan tâm nhất là sự minh bạch, tính giải trình thì cả NHCP lẫn Nhà nước đều hạn chế. Vì thế trong thời gian tới, đây là điều cần khắc phục để có thể tạo sức hút đối với khối ngoại.
Tất nhiên, trong hoạt động NH, không phải mọi thông tin có thể công bố công khai, nhưng càng minh bạch thông tin, đảm bảo tính cập nhật, độ chuẩn xác sẽ càng củng cố được niềm tin của khách hàng.