Sự phối hợp giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và kiểm toán độc lập trong việc đảm bảo an toàn hoạt động và chất lượng báo cáo tài chính của ngân hàng thương mại
TS. Lê Thị Thu Hà1
Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức trung gian tài chính, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế. Sức khỏe của hệ thống ngân hàng có ảnh hưởng lớn tới sự vững mạnh của hệ thống tài chính quốc gia cũng như nền kinh tế nói chung. Trong thời gian qua, đã có những sai phạm với quy mô lớn xảy ra tại các NHTM, ví dụ vụ án Huyền Như tại NHTM cổ phần Công thương Việt Nam, vụ án Phạm Công Danh tại Ngân hàng Xây dựng, vụ án Ngân hàng Đại dương..., gây ảnh hưởng tới uy tín và làm giảm sút niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Vì vậy, việc đảm bảo an toàn hoạt động cũng như chất lượng báo cáo tài chính của các NHTM là vấn đề rất quan trọng hiện nay.
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ quan thuộc Ngân hàng Nhà nước (NHNN), có chức năng thanh tra, giám sát hoạt động của các NHTM, nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng. Trong khi đó, kiểm toán độc lập có chức năng thực hiện các cuộc kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) nhằm đưa ra ý kiến kiểm toán về BCTC của các NHTM. Sự phối hợp hoạt động giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và kiểm toán độc lập có thể tăng cường hiệu quả hoạt động của cả hai bên nhằm tăng cường đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTM cũng như chất lượng BCTC của các ngân hàng.
Mục đích của bài viết này là nhằm xác định nội dung hợp tác giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và kiểm toán độc lập ở Việt Nam, từ đó đưa ra các đề xuất để phối hợp hoạt động giữa hai bên trong thời gian tới.
1. Vai trò của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trong việc đảm bảo an toàn hoạt động của các NHTM
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng là cơ quan trực thuộc NHNN, thực hiện chức năng thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và giám sát chuyên ngành về ngân hàng trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của NHNN; tham mưu, giúp Thống đốc NHNN quản lý nhà nước đối với các tổ chức tín dụng, thực hiện phòng, chống rửa tiền theo quy định của pháp luật.
Điều 50 Luật NHNN 2010 quy định rõ mục đích của thanh tra, giám sát ngân hàng nhằm góp phần bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hệ thống các tổ chức tín dụng và hệ thống tài chính; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền và khách hàng của tổ chức tín dụng; duy trì và nâng cao lòng tin của công chúng đối với hệ thống các tổ chức tín dụng; bảo đảm việc chấp hành chính sách, pháp luật về tiền tệ và ngân hàng; góp phần nâng cao hiệu quả và hiệu lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có chức năng thanh tra và giám sát chuyên ngành về ngân hàng theo quy định của pháp luật và phân công của Thống đốc NHNN, cụ thể là về một số vấn đề chính sau:
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, việc thực hiện các quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động của các tổ chức tín dụng;
- Giám sát các đối tượng giám sát ngân hàng trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn hoạt động ngân hàng, về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, các điều kiện cấp phép, các quy định trong giấy phép thành lập và hoạt động, giấy phép hoạt động ngân hàng;
- Thu thập, tổng hợp, xử lý tài liệu, thông tin có liên quan và xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ giám sát ngân hàng;
- Phân tích, đánh giá tình hình tài chính, hoạt động, quản trị, điều hành và mức độ rủi ro của đối tượng giám sát ngân hàng; phát hiện, cảnh báo các rủi ro gây mất an toàn hoạt động ngân hàng và nguy cơ dẫn đến vi phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động
ngân hàng;
- Áp dụng biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn để bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng trong trường hợp khẩn cấp.
- Đề xuất Thống đốc NHNN áp dụng biện pháp xử lý đối với đối tượng thanh tra giám sát ngân hàng có hành vi vi phạm pháp luật hoặc hoạt động không an toàn; đặt, chấm dứt tình trạng giám sát đặc biệt, kiểm soát đặc biệt đối với tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ; đình chỉ một hoặc một số hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ và tổ chức khác có hoạt động ngân hàng; thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động của tổ chức tín dụng, tổ chức tài chính quy mô nhỏ, giấy phép hoạt động ngân hàng của tổ chức khác; các biện pháp xử lý khác theo quy định của pháp luật.
Về cơ cấu tổ chức, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng được tổ chức thành một số Vụ, Cục chịu trách nhiệm thanh tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng trong nước, tổ chức tín dụng nước ngoài, cục phòng, chống rửa tiền… Thanh tra, giám sát NHNN chi nhánh là đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của NHNN chi nhánh, giúp giám đốc NHNN chi nhánh quản lý nhà nước, tiến hành thanh tra hành chính, thanh tra, giám sát ngân hàng, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng, chống tham nhũng, phòng, chống rửa tiền… trên địa bàn theo sự phân công của Thống đốc NHNN và theo quy định của pháp luật.
Có thể nói, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc theo dõi, phân tích, đánh giá tình hình hoạt động, đảm bảo tính an toàn trong hoạt động của các NHTM.
2. Vai trò của kiểm toán độc lập trong việc kiểm toán báo cáo tài chính của các NHTM
Kiểm toán độc lập báo cáo tài chính là việc kiểm tra và xác nhận của các kiểm toán viên độc lập và doanh nghiệp kiểm toán về tính trung thực và hợp lý của các bản báo cáo tài chính (BCTC) cũng như việc BCTC có trình bày phù hợp với các nguyên tắc, chuẩn mực kế toán được thừa nhận hay không. Thước đo để đánh giá kiểm toán BCTC là hệ thống chuẩn mực kế toán và kiểm toán.
Bên cạnh kiểm toán BCTC, kiểm toán độc lập cũng rà soát, đánh giá kiểm soát nội bộ của
các NHTM.
Các ngân hàng có thể sử dụng bộ phận kiểm toán nội bộ của ngân hàng mình. Tuy nhiên, hoạt động kiểm toán nội bộ chỉ có thể đưa ra một sự đảm bảo chất lượng của các BCTC nếu như bộ phận này hoạt động theo đúng nghĩa của nó. Hơn nữa, bộ phận này hoạt động dưới sự chỉ đạo, giám sát của chính ban lãnh đạo ngân hàng, báo cáo kiểm toán của bộ phận này cũng do chính ban lãnh đạo ngân hàng phê duyệt. Vì vậy, báo cáo kiểm toán do bộ phận kiểm toán nội bộ của các ngân hàng đưa ra thường ít tạo được sự tin cậy của thị trường và các cơ quan quản lý. Do đó, các ngân hàng luôn cần đến sự tham gia kiểm toán từ bên ngoài của các công ty kiểm toán.
Việc kiểm toán BCTC của các NHTM cũng giúp các nhà đầu tư có được những thông tin tin cậy về tình hình tài chính của các NHTM, từ đó, giúp họ có hướng đầu tư đúng đắn, sử dụng vốn đầu tư có hiệu quả và đưa ra quyết định đầu tư là ít rủi ro nhất. Như vậy, kiểm toán BCTC của các NHTM tạo niềm tin cho những người quan tâm đặc biệt là các cổ đông, nhà đầu tư bởi quá trình kiểm toán được tiến hành độc lập và được thực hiện bởi các kiểm toán viên có trình độ năng lực về tài chính, kế toán, kiểm toán.
Đứng dưới góc độ xã hội, kiểm toán độc lập BCTC còn góp phần nâng cao môi trường đầu tư lành mạnh và bình đẳng, hội nhập quốc tế cho các tổ chức, đồng thời tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nước ngoài đến đầu tư. Hoạt động kiểm toán độc lập BCTC sẽ trở thành một công cụ hữu hiệu sự ổn định kinh tế, đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường mà thị trường chứng khoán đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Bởi kiểm toán độc lập BCTC sẽ tạo ra cái nhìn đúng đắn hơn về các thông tin tài chính của các doanh nghiệp, ngăn chặn việc các thông tin này bị bóp méo theo hướng có lợi cho doanh nghiệp mà không phản ánh đúng giá trị thực sự của nó. Để đảm bảo lòng tin của công chúng, cơ quan Nhà nước thường yêu cầu BCTC của NHTM phải được kiểm toán độc lập bởi các tổ chức kiểm toán độc lập đáp ứng được các yêu cầu nhất định.
Với chức năng nâng cao độ tin cậy của thông tin, hoạt động kiểm toán độc lập đang đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với nền kinh tế thị trường, trong đó đặc biệt là đối với hoạt động ngân hàng.
Hoạt động kiểm toán độc lập BCTC của các NHTM có những đặc thù nhất định. Tính chất phức tạp trong các quy trình, sản phẩm dịch vụ của các NHTM có ảnh hưởng lớn tới việc lập kế hoạch, thiết kế và thực hiện các thủ tục kiểm toán của các công ty kiểm toán. Tính chất đặc thù của các sản phẩm dịch vụ tài chính đòi hỏi kiểm toán viên phải có các hiểu biết sâu sắc về các hoạt động ngân hàng. Quy mô lớn cũng như sự phân tán về mặt địa lý của các NHTM cũng gây nhiều thách thức với các công ty kiểm toán. Mặt khác, do nhu cầu kiểm toán ngày càng lớn, các công ty kiểm toán ở Việt Nam hiện nay gặp rất nhiều áp lực về khối lượng công việc, thời gian hoàn thành kiểm toán, từ đó có thể ảnh hưởng đến chất lượng kiểm toán.
Là loại hình kinh doanh chịu sự giám sát chặt chẽ của cơ quan quản lý Nhà nước, kiểm toán viên và công ty kiểm toán cần có sự phối hợp chặt chẽ với Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trong việc trao đổi thông tin liên quan đến việc thực thi nhiệm vụ của mỗi bên. Những thông tin do Cơ quan Thanh tra, giám sát cung cấp có thể được sử dụng trong quá trình lập kế hoạch, thực hiện kiểm toán, xác định các giao dịch và nghiệp vụ có rủi ro cao. Ngược lại, các thông tin do kiểm toán viên (KTV) cung cấp có thể hỗ trợ Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trong việc đảm bảo an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng.
3. Sự phối hợp giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và kiểm toán độc lập trong việc đảm bảo an toàn hoạt động và độ tin cậy của báo cáo tài chính của
các NHTM
Sự phối hợp thông tin giữa Cơ quan giám sát ngân hàng với công ty kiểm toán có ý nghĩa quan trọng nhằm góp phần bảo đảm tính an toàn và độ tin cậy của BCTC của hệ thống NHTM. Là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực ngân hàng, có đầy đủ cơ sở dữ liệu và nắm rõ các thay đổi trong hoạt động hàng ngày của ngân hàng. Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có thể cung cấp nhiều thông tin hữu ích cho công ty kiểm toán nhằm giúp các công ty kiểm toán định hướng và tập trung vào các rủi ro phát sinh trong hoạt động ngân hàng. Ngược lại, kiểm toán viên khi nghi ngờ hoặc phát hiện thấy các vấn đề nghiêm trọng có ảnh hưởng đến sự phát triển an toàn của hệ thống NHTM cũng cần báo cáo cho Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.
Theo khuyến nghị của Ủy ban giám sát Basel, cần có các cuộc trao đổi thường xuyên, thẳng thắn, định kỳ giữa cơ quan giám sát ngân hàng, công ty kiểm toán và các tổ chức nghề nghiệp về các rủi ro và những vấn đề có tính chất hệ thống phát sinh từ các cuộc kiểm toán cũng như các quan điểm về các vấn đề kế toán và kiểm toán. Cơ quan giám sát ngân hàng cũng cần có các trao đổi thường xuyên và hiệu quả với cơ quan quản lý, giám sát hoạt động kiểm toán.
Về thực trạng sự phối hợp giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng với kiểm toán độc lập, theo các kết quả nghiên cứu về hoạt động kiểm toán tại các NHTM Việt Nam trong thời gian qua, đã có sự trao đổi phối hợp nhất định giữa các công ty kiểm toán và Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng.
Theo Thông tư 39/2011/TT-NHNN quy định về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, kết quả kiểm toán bao gồm báo cáo kiểm toán và thư quản lý được báo cáo với NHNN sau khi kết thúc cuộc kiểm toán. Giữa các công ty kiểm toán và Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng cũng đã có sự trao đổi thông tin về các vấn đề phát sinh trong quá trình kiểm toán ngân hàng. Khi có những rủi ro hoặc các vấn đề cần chú ý trong hoạt động của các NHTM, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có thể gửi thông báo tới các công ty kiểm toán để có thể lập kế hoạch và thực hiện kiểm toán một cách phù hợp. Ngược lại, những vướng mắc trong quá trình kiểm toán liên quan đến việc ghi chép, hạch toán các nghiệp vụ cũng được kiểm toán viên báo cáo với Ngân hàng
Nhà nước.
Tuy nhiên, sự trao đổi thông tin, nhìn chung, chưa được quy định một cách chặt chẽ. Trong một số trường hợp, những trao đổi giữa kiểm toán viên và thanh tra ngân hàng được thực hiện mang tính chất cá nhân và liên quan đến những tình huống cụ thể hơn là dựa vào những kênh liên lạc chính thức và định kỳ.
Trong thời gian tới, cần có sự phối hợp chặt chẽ hơn nữa giữa Cơ quan giám sát ngân hàng với các công ty kiểm toán. Các trao đổi hai chiều giữa công ty kiểm toán và Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng có thể giúp hai bên chia sẻ các mối quan tâm và có thêm các hiểu biết về những vấn đề mà các ngân hàng đang phải đối mặt, từ đó, có thể đánh giá đúng hơn rủi ro của các ngân hàng.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, để đảm bảo hiệu quả trong công việc của cả hai phía, các điều khoản và phạm vi của mối quan hệ giữa hai bên cần được quy định một cách rõ ràng trong các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Trung ương. Dựa trên kinh nghiệm của một số nước trên thế giới, chúng tôi xin đề xuất một số nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ giữa hai bên như sau.
Thứ nhất, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và công ty kiểm toán cần phát triển một mối quan hệ cởi mở, hợp tác và xây dựng hơn
Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và công ty kiểm toán cần duy trì các đối thoại hai chiều cởi mở và mang tính xây dựng để hỗ trợ cả hai bên hoàn thành các nhiệm vụ của mình. Sự trao đổi thông tin nên được thực hiện qua các kênh chính thức như các cuộc gặp gỡ hai bên giữa kiểm toán viên với giám sát viên và các cuộc gặp ba bên giữa kiểm toán viên, giám sát viên và đại diện ngân hàng được giám sát; và qua các kênh không chính thức, chẳng hạn như các cuộc gọi điện thoại và các cuộc họp cho phù hợp.
Thứ hai, các giám sát viên và kiểm toán viên cần tham gia vào các cuộc đối thoại thường
xuyên hơn
Trao đổi thông tin giữa người giám sát và kiểm toán viên nên được thực hiện thường xuyên khi cần thiết. Hình thức, nội dung và tần số các cuộc đối thoại sẽ tùy thuộc vào đặc điểm của ngân hàng được giám sát.
Đối với các cuộc họp chính thức, cần có ít nhất một cuộc họp định kỳ hai bên và một cuộc họp định kỳ ba bên. Các cuộc họp phải bao gồm tất cả các vấn đề mà có thể sẽ hữu ích cho mỗi bên trong việc thực hiện chức năng của mình. Các cuộc họp song phương bổ sung giữa các giám sát viên và kiểm toán viên nên được tiến hành vào thời điểm lập kế hoạch và kết thúc kiểm toán hàng năm.
Thứ ba, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và công ty kiểm toán cần chia sẻ các thông tin có liên quan để thực hiện nhiệm vụ của mỗi bên một cách kịp thời
Các quy định của pháp luật nên cho phép kiểm toán viên thông báo với Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng các thông tin hoặc ý kiến về một vấn đề mà kiểm toán viên cho rằng có liên quan đến chức năng giám sát của cơ quan giám sát. Ngược lại, Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng cần công bố các thông tin liên quan đến việc thực hiện chức trách của kiểm toán viên. Giám sát viên và kiểm toán viên có trách nhiệm bảo mật các thông tin được chia sẻ giữa hai bên.
Về thời gian và nội dung của các cuộc họp hai bên giữa kiểm toán viên và giám sát viên:
Để nâng cao chất lượng kiểm toán và tính hiệu quả của việc giám sát, thời gian và nội dung của các cuộc họp giữa các giám sát viên và kiểm toán viên nên gắn với quy trình kiểm toán và tập trung vào các vấn đề chính của cuộc kiểm toán. Nên có ít nhất hai cuộc họp được thực hiện trước khi lập kế hoạch và trước khi kết thúc cuộc kiểm toán.
Khi lập kế hoạch giai đoạn kiểm toán, các nội dung trao đổi bao gồm: đánh giá rủi ro và xác định phạm vi kiểm toán, dựa trên đánh giá của kiểm toán viên và giám sát viên về môi trường kinh tế và kết quả hoạt động của ngân hàng, mô hình kinh doanh, khẩu vị rủi ro của ngân hàng...; trao đổi về kế hoạch và phương pháp tiếp cận cuộc kiểm toán cũng như mức trọng yếu; đánh giá về kiểm soát nội bộ (hiệu quả quản trị, môi trường kiểm soát, kiểm soát ứng dụng, kiểm soát hệ thống, giám sát kiểm soát...); đánh giá rủi ro liên quan đến giả định hoạt động liên tục; chính sách kế toán áp dụng; khả năng xảy ra các thiên lệch của ban quản lý; văn hóa và triết lý của người quản lý; các vấn đề liên quan đến tính tuân thủ pháp luật; các vấn đề phát sinh từ các kỳ kiểm toán trước.
Trước khi kết thúc kiểm toán, các nội dung trao đổi bao gồm: cập nhật các vấn đề đã trao đổi trong cuộc gặp trước; thảo luận về sự đầy đủ và đáng tin cậy của các thuyết minh và các rủi ro, giao dịch, xét đoán liên quan đến cuộc kiểm toán; các ước tính kế toán quan trọng và bất cứ dấu hiệu nào của các thiên lệch của nhà quản lý; phân tích đánh giá của ban quản lý về giả định hoạt động liên tục; các sai sót không được điều chỉnh và đánh giá của kiểm toán viên về mức trọng yếu; các điểm yếu kém của kiểm soát được phát hiện và các vấn đề khác phát sinh từ việc kiểm toán; dự kiến báo cáo kiểm toán.
Ngoài hai cuộc họp như trên, một cuộc họp có thể được tổ chức sau khi kết thúc công việc kiểm toán để trao đổi về những vấn đề cần xem xét trong các cuộc kiểm toán soát xét hàng năm và các rủi ro cần được chú ý.
Theo kinh nghiệm một số nước, kiểm toán viên cũng có trách nhiệm thông báo cho cơ quan thanh tra, giám sát ngân hàng khi họ từ nhiệm hoặc có ý định từ nhiệm hoặc ngân hàng quyết định chấm dứt hợp đồng với công ty kiểm toán.
Ngoài việc trao đổi giữa Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng với kiểm toán viên, cần có cơ chế hợp tác và trao đổi thông tin giữa các Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và cơ quan giám sát hoạt động kiểm toán là Bộ Tài chính và Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước.
Các cuộc họp giữa các Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng và các cơ quan giám sát kiểm toán phải diễn ra thường xuyên để họ có thể thông báo cho nhau về các vấn đề mà hai bên cùng quan tâm. Các vấn đề được trao đổi có thể bao gồm việc kiểm toán một số lĩnh vực đặc biệt liên quan như dự phòng nợ khó đòi, hoặc xét đoán của kiểm toán viên về kiểm soát nội bộ hoặc quy trình quản lý rủi ro của các ngân hàng. Các cuộc thảo luận cũng có thể bao gồm bất kỳ vấn đề nào mà cơ quan giám sát kiểm toán quan tâm trong quá trình kiểm tra các cuộc kiểm toán BCTC của các tổ chức tài chính (bao gồm cả các khiếm khuyết của quy trình kiểm toán), và phản hồi của cơ quan giám sát kiểm toán đối với các vấn đề này, bao gồm các hành động khắc phục những khiếm khuyết do cơ quan giám sát kiểm toán hoặc kiểm toán viên độc lập thực hiện nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Bank of England (2013), The relationship between the external auditor and the supervisor: A code of practice, www.bankofengland.co.uk
2. Basel Committee on Banking Supervision (2013), External Audits of Banks, www.bis.org
3. Chính phủ (2014), Nghị định số 26/2014/NĐ-CP ngày 07/4/2014 ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của Thanh tra, giám sát ngành Ngân hàng.
4. Lê Thị Thu Hà (2015), Đề tài cấp ngành “Giải pháp nâng cao chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam, Học viện Ngân hàng.
5. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (2011), Thông tư số 39/2011/TT-NHNN Quy định về kiểm toán độc lập đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
6. Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (2010), Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Số 46/2010/QH12, ngày 16/06/2010.
1 Học viện Ngân hàng