Lợi nhuận thuần của ngành dệt may Việt Nam chỉ tương đương khoảng 3% giá trị xuất khẩu. Nếu lấy con số kim ngạch xuất khẩu năm 2019 là 39 tỷ USD, thì giá trị lợi nhuận toàn ngành chỉ đạt khoảng 1,2 tỷ USD. Con số này là rất nhỏ bé khi so với quy mô khoảng 10.000 DN trong ngành dệt may. Đó là thông tin đáng chú ý vừa được công bố tại báo cáo “Dệt may Việt Nam: Tác động của Covid-19 và xa hơn nữa”, do Chương trình nghiên cứu chiến lược Mekong-Trung Quốc (MCSS), Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) và Tổ chức ActionAid tại Việt Nam (AAV) thực hiện.
Dệt may phải tìm hướng bứt phá
Đức Ngọc
Lợi nhuận thuần của ngành dệt may Việt Nam chỉ tương đương khoảng 3% giá trị xuất khẩu. Nếu lấy con số kim ngạch xuất khẩu năm 2019 là 39 tỷ USD, thì giá trị lợi nhuận toàn ngành chỉ đạt khoảng 1,2 tỷ USD. Con số này là rất nhỏ bé khi so với quy mô khoảng 10.000 DN trong ngành dệt may. Đó là thông tin đáng chú ý vừa được công bố tại báo cáo “Dệt may Việt Nam: Tác động của Covid-19 và xa hơn nữa”, do Chương trình nghiên cứu chiến lược Mekong-Trung Quốc (MCSS), Học viện Nông nghiệp Việt Nam (VNUA) và Tổ chức ActionAid tại Việt Nam (AAV) thực hiện.
TS. Phạm Sỹ Thành - Giám đốc Chương trình MCSS phân tích thêm, chỉ số ROA (lợi nhuận trên tổng tài sản) của ngành dệt may chỉ bằng 50% so với mức trung bình 500 DN hàng đầu nền kinh tế (6,3 so với 11,8). Hiện nay cứ 10 đồng tổng tài sản chỉ đem lại cho ngành dệt may 0,6 đồng lợi nhuận. Những con số này cho thấy, mặc dù là một ngành sản xuất phát triển nhanh, song thực trạng hiện nay của ngành dệt may là rất đáng ngại.
Đến nay dệt may vẫn là ngành xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam sau 2 ngành mà khối FDI chiếm vị thế tuyệt đối là điện thoại và linh kiện; máy vi tính, điện tử và linh kiện. Theo nhóm nghiên cứu, quy mô xuất khẩu của dệt may Việt Nam tương đương 4% quy mô xuất khẩu toàn cầu là tương đối lớn. Đây còn là ngành sản xuất mà các DN trong nước cạnh tranh tương đối ngang sức với DN FDI, giải quyết gần 3 triệu lao động, tương đương 5% tổng số lao động và đóng góp hơn 12% vào tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, giá trị gần gấp đôi giá trị xuất khẩu hàng nông sản. Vì vậy ngành này cần được chú trọng phát triển.
Tuy nhiên theo nhóm nghiên cứu, sở dĩ dệt may Việt Nam mang lại giá trị gia tăng chưa cao là bởi ngành này chưa có chuỗi cung ứng đầy đủ. Cũng bởi năng lực nội chưa thực sự vững mạnh, nên ngay trong bối cảnh đại dịch Covid-19 bùng phát trong các tháng đầu năm, ngành dệt may đã gặp rất nhiều khó khăn. Lần đầu tiên tất cả các mặt hàng xuất khẩu của ngành dệt và ngành may mặc đều bị suy giảm. Trong đó, xuất khẩu may mặc 4 tháng đầu năm 2020 giảm gần 10% so với cùng kỳ, 100% đơn hàng nửa đầu năm đã bị hủy. Mục tiêu xuất khẩu cả năm 2020 vượt mốc 40 tỷ USD được dự đoán rất khó thực hiện.
Năm 2020 cũng là năm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) được phê chuẩn thông qua, mở ra cơ hội mới cho việc thúc đẩy xuất khẩu cũng như cấu trúc lại đường hướng phát triển của ngành. Song theo TS. Phạm Sỹ Thành, việc chuỗi cung ứng chưa hoàn thiện cũng khiến ngành dệt may rất khó tận dụng lợi thế của các FTA.
Nhóm nghiên cứu của MCSS chỉ ra thực tế, sản xuất vải đang là “nút thắt cổ chai” của ngành dệt may Việt Nam. Cụ thể, nhập khẩu vải và nguyên phụ liệu ngành dệt may hiện đang chiếm khoảng 40% giá trị kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc; trong đó, 70% vải nhập khẩu phục vụ cho mục đích may xuất khẩu. Như vậy, chi phí cho nhập khẩu nguyên phụ liệu đang chiếm khoảng 30% tổng giá trị xuất khẩu của DN. Chính vì chuỗi cung ứng đứt gãy như vậy, nên tới nay việc tận dụng lợi ích thuế quan từ các FTA chủ yếu tồn tại về mặt lý thuyết. Số liệu cho thấy, tỷ lệ tận dụng FTA của Việt Nam chỉ đạt trung bình 30 – 35%. Điều này có nghĩa, Việt Nam chỉ mới tận dụng được 1/3 lợi ích từ các FTA đã có hiệu lực.
Bà Bùi Kim Thuỳ - đại diện Việt Nam của Hội đồng kinh doanh Hoa Kỳ - ASEAN cũng nhấn mạnh, chuỗi cung ứng tạo ra ngành dệt may là hình chữ U thì Việt Nam mới tham gia ở đáy chữ U, trong khi các công đoạn ở 2 bên cạnh có giá trị gia tăng cao hơn thì chưa nhiều. Do đó cần có sự tham gia của quá trình hoạch định chính sách của khu vực công để ngành dệt may có thể phát triển bứt phá.
TS. Phạm Sỹ Thành nhấn mạnh, khi EVFTA được phê chuẩn, dệt may Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn vào sáng tạo để tạo ra nhiều giá trị tăng thêm cho ngành. “Để làm được việc đó, bên cạnh sự nỗ lực của bản thân các DN, Nhà nước cần có những thay đổi mạnh mẽ về chính sách và cơ cấu thuế, giá phù hợp”, TS. Phạm Sỹ Thành nhấn mạnh.
Cụ thể, nhóm nghiên cứu khuyến nghị, các khoản thuế thu nhập DN, tiền thuê đất mà DN đã nộp cho năm 2019 nên được trừ vào các khoản phí cần đóng như bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, phí công đoàn… của năm 2020 thay các khoản thuế phải nộp. Bên cạnh đó, cho phép miễn đóng bảo hiểm xã hội cho toàn bộ các DN từ 3-6 tháng đầu năm 2020, không khống chế tỷ lệ phần trăm lao động phải nghỉ việc.
Bên cạnh đó, cần tận dụng hiệu quả các FTA nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và thu hút dịch chuyển đầu tư FDI vào sản xuất nguyên phụ liệu nhằm đáp ứng yêu cầu về quy định xuất xứ. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu cho rằng cần thiết phải ký một FTA song phương với Canada vì đây là thị trường xuất khẩu may mặc tiềm năng, quy mô lớn. Đối với các DN trong ngành, cần cải thiện vị trí chuỗi giá trị bằng liên kết chuỗi cung ứng, chú trọng đầu tư cho tự động hóa; khai thác các thị trường hiện có và mở thêm tiềm năng của thị trường mới; đầu tư cho tương lai bằng thay đổi cách tổ chức sản xuất dựa theo công nghệ.