Một hệ thống tài chính (HTTC) “chuẩn chỉnh”, phát triển bền vững chính là một nhân tố đảm bảo thực hiện khát vọng Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045. Như vậy, rất cần nhìn lại việc tái cấu trúc HTTC 10 năm qua để thấy những việc đã làm được cũng như những vấn đề cần tiếp tục triển khai trong những năm tới.
Tái cấu trúc hệ thống tài chính:
Một thập niên nhìn lại và hướng tới
TS. Võ Trí Thành
Một hệ thống tài chính (HTTC) “chuẩn chỉnh”, phát triển bền vững chính là một nhân tố đảm bảo thực hiện khát vọng Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và thu nhập cao vào năm 2045. Như vậy, rất cần nhìn lại việc tái cấu trúc HTTC 10 năm qua để thấy những việc đã làm được cũng như những vấn đề cần tiếp tục triển khai trong những năm tới.
Hệ thống các TCTD dần lành mạnh hơn
Thấm thoát đã hơn 10 năm Việt Nam thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế, trong đó có chương trình tái cấu trúc HTTC. Nhìn lại hơn 10 năm qua, nhiều việc có ý nghĩa trong tái cấu trúc HTTC đã làm được, song cũng không ít vấn đề còn dang dở, kết quả chưa như kỳ vọng và mục tiêu đề ra.
Trước hết, HTTC, nhất là hệ thống các TCTD đã tránh được đổ vỡ, nhất là trong giai đoạn 2011-2013, với cách làm “đập chuột nhưng không vỡ bình” và trong điều kiện nguồn lực rất hạn chế, thậm chí về nguyên tắc, “không được dùng tiền ngân sách để xử lý nợ xấu (XLNX)”. Kết quả là Việt Nam không chỉ dần ổn định KTVM (lạm phát và lãi suất giảm mạnh; mức độ “đô la hóa” và “vàng hóa” xuống thấp; tỷ giá danh nghĩa tương đối ổn định...), mà hệ thống các TCTD cũng dần trở nên lành mạnh hơn và về cơ bản vẫn đảm bảo cung cấp tín dụng cho sản xuất kinh doanh. Việc chấn chỉnh, sắp xếp lại TCTD yếu kém cùng XLNX (nhất là việc thành lập VAMC năm 2013) tuy rất khó khăn nhưng cũng đạt được kết quả khích lệ. Quan trọng là chúng ta đã tránh được đổ vỡ, ngăn chặn tác động tiêu cực lan ra cả hệ thống. Hệ thống ngân hàng đã có bước tiến trong đáp ứng các thông lệ, chuẩn mực quốc tế thông qua các biện pháp tăng tính minh bạch, giảm rủi ro sở hữu chéo, tăng quy mô vốn, xây dựng hệ thống quản trị rủi ro phù hợp với Basel II tiệm cận với Basel III, thúc đẩy chuyển đổi số… Nhìn chung, hệ thống TCTD hiện đã lành mạnh hơn nhiều so với trước đây.
Dù vậy, chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào thực tế là những chuyển biến tích cực trên chưa lấp đi các điểm còn yếu của hệ thống TCTD. Như vấn đề nợ xấu, dù được "yểm trợ" bởi Nghị quyết 42/2017/QH14 (về thí điểm XLNX của các TCTD) do Quốc hội đã ban hành, nhưng đến nay nợ xấu vẫn còn là vấn đề nhức nhối, nhất là đang có nguy cơ gia tăng do tác động của đại dịch Covid-19 vừa qua, cùng với việc các TCTD phải thực hiện chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp thông qua giãn, hoãn, khoanh nợ. Bên cạnh đó, mục tiêu các ngân hàng phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu Basel II còn thách thức; Hay như vấn đề thể chế mới cho Fintech, ngân hàng số chậm được hiện thực hóa. Bên cạnh đó, thị trường tín dụng phi chính thức vẫn tồn tại với quy mô khá lớn, tiềm ẩn không ít rủi ro và tác động xã hội tiêu cực.
Công cuộc tái cấu trúc phải được tiếp tục
HTTC đã trở nên ít nhiều cân đối hơn. Sự phát triển thị trường vốn góp phần đa dạng kênh đầu tư, song về tổng thể, gánh nặng vốn đầu tư cho nền kinh tế vẫn dồn lên vai ngân hàng. Tín dụng năm 2021 tương đương 124% GDP. Tỷ trọng trong tổng tài sản HTTC năm 2021 của các TCTD, trái phiếu, cổ phiếu và bảo hiểm lần lượt là 57,2%, 13,6%, 28,4% và 0,8%. Đó là chưa nói tới một “người chơi chính” trên thị trường trái phiếu và người cung ứng vốn quan trọng cho TTCK cũng chính là các NHTM.
Bước phát triển mạnh mẽ của TTCK đã giúp trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế. Các Sở giao dịch chứng khoán và Trung tâm lưu ký chứng khoán đã và sẽ tiếp tục được cải tổ. Khung khổ pháp lý (Luật Chứng khoán, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư…) được hoàn thiện và đi vào cuộc sống. Tuy nhiên, TTCK vẫn còn nhiều vấn đề tồn đọng chưa được giải quyết: Thông tin thiếu minh bạch; sự lũng đoạn thị trường; chất lượng quản trị chưa cao của các công ty niêm yết; tính kỷ luật thị trường không cao, trong khi năng lực giám sát, các chế tài thực thi chưa theo kịp và chưa đủ hiệu lực. Đặc biệt, mục tiêu đưa TTCK Việt Nam từ “thị trường cận biên” lên “thị trường mới nổi” còn vướng không ít rào cản. Cùng với đó, thị trường trái phiếu đã có bước tiến nhiều ý nghĩa, nhất là trong những năm gần đây. Thị trường TPCP đa dạng hơn cả về loại hình và kỳ hạn; TPCP giao dịch khá sôi động trên thị trường thứ cấp và thiết lập được đường cong lãi suất chuẩn. Thị trường TPDN có sự bứt phá, với mức tăng trưởng trên 40% kể từ 2018, trở thành kênh huy động vốn trung, dài hạn quan trọng… Tuy vậy, tăng trưởng thị trường TPDN “nóng” trong khi khung khổ pháp lý lại đang trong quá trình hoàn thiện.
Từ thực trạng trên có thể thấy cải cách, tái cấu trúc HTTC Việt Nam hơn 10 năm qua có nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, phía trước, cả trước mắt và lâu dài HTTC vẫn bề bộn vấn đề đòi hỏi phải xử lý.
Trước mắt, trong bối cảnh thị trường thế giới có nhiều bất định chúng ta cần ứng xử thích hợp; tạo dựng niềm tin, thiết lập kỷ luật thị trường cùng ổn định KTVM; và tạo điều kiện cho HTTC vận hành bình thường, hỗ trợ quá trình phục hồi và phát triển kinh tế. Dù không ít thách thức nhưng so với bối cảnh trước đây, sức chống chịu của HTTC đã tốt hơn nhiều; KTVM vững vàng hơn; và kinh nghiệm điều hành chính sách của Việt Nam đã tốt hơn trước đáng kể. Ví dụ dễ thấy là sự phối hợp chính sách giữa Bộ Tài chính và NHNN; hay tính linh hoạt và kịp thời trong điều hành cung tiền, đảm bảo thanh khoản… của NHNN. Song như vậy là chưa đủ cho sự phát triển an toàn, bền vững của HTTC, nhất là trong bối cảnh kinh tế thế giới đang có những chuyển biến sâu sắc cùng tính bất định gia tăng. Với một nền kinh tế chuyển đổi và hội nhập sâu rộng như Việt Nam, tăng cường khả năng chống chịu trước các cú sốc khác nhau cũng như sự phát triển lành mạnh cùng bắt nhịp các xu hướng mới (chuyển đổi số, tài chính xanh…) của cả HTTC vẫn là thách thức lớn.
Đảm bảo ổn định KTVM, tái cấu trúc HTTC vẫn là một công cuộc phải được tiếp tục thực thi không ngơi nghỉ. Nhìn rộng hơn, nó không chỉ bao gồm giải quyết các vấn đề tồn đọng, mà còn cần nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế, cũng như bắt nhịp với các xu hướng phát triển mới. Bên cạnh đó, cần đổi mới mô hình và cách thức giám sát tài chính - một yếu tố mang tính sống còn đối với sự vận hành hiệu quả, phát triển thị trường bền vững. Đổi mới, cải cách là quá trình gian truân, nỗ lực không ngừng nghỉ và chính vì vậy, thành quả đem lại cho sự phát triển đất nước thật đáng trân trọng. Điều đó càng đúng với quá trình cải cách, phát triển HTTC. Bởi, sự phát triển lành mạnh của HTTC là một nhân tố thiết yếu gắn liền với đảm bảo ổn định KTVM, nâng cao khả năng cạnh tranh và góp phần thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Một HTTC “chuẩn chỉnh”, phát triển bền vững chính là yếu tố đảm bảo thực hiện khát vọng Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.