Nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý ngân hàng thương mại cổ phần
ThS. Đỗ Minh Tuấn1
1. Khái niệm người quản lý ngân hàng thương mại cổ phần
Điều 4 khoản 31. Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 định nghĩa: “Người quản lý tổ chức tín dụng bao gồm Chủ tịch, thành viên Hội đồng quản trị; Chủ tịch, thành viên Hội đồng thành viên; Tổng Giám đốc (Giám đốc) và các chức danh quản lý khác theo quy định tại Điều lệ của tổ chức tín dụng”. Điều lệ của các công ty đại chúng được xây dựng và ban hành theo Điều lệ mẫu (áp dụng cho công ty đại chúng) ban hành kèm theo Thông tư số 121/2012/TT-BTC ngày 26/7/2012 của Bộ Tài chính quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng (sau đây gọi tắt là “Điều lệ mẫu”). Hầu hết các ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) là các công ty đại chúng. Theo số liệu do Ngân hàng Nhà nước (NHNN) công bố trên website thì có 34 NHTMCP.1 Trong khi đó, theo số liệu thông kê của Ủy ban Chứng khoán nhà nước thì có 32 NHTMCP là công ty đại chúng đã đăng ký.2 Vì là công ty đại chúng, nên hầu hết điều lệ của các NHTMCP được xây dựng dựa theo Điều lệ mẫu và phù hợp với Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010. Điều 1.1(d) Điều lệ mẫu có quy định giám đốc (tổng giám đốc), phó giám đốc (phó tổng giám đốc), kế toán trưởng và các vị trí quản lý khác do Hội đồng quản trị phê chuẩn là người quản lý công ty. Điều 1.1(v) Điều lệ NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) năm 2015 quy định “người quản lý” gồm Chủ tịch, thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng. Điều 1.18 Điều lệ tổ chức và hoạt động của NHTMCP Công thương Việt Nam (bản sửa đổi, bổ sung năm 2015 quy định “người quản lý của VietinBank” bao gồm: Chủ tịch HĐQT, thành viên HĐQT, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Kế toán trưởng, Trưởng văn phòng đại diện, Giám đốc chi nhánh. Như vậy, trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của các NHTMCP hiện nay, người quản lý NHTMCP (sau đây viết tắt là “người quản lý NHTMCP”) bao gồm người quản lý NHTMCP do luật định và người quản lý NHTMCP do điều lệ quy định. Người quản lý NHTMCP do luật định bao gồm thành viên HĐQT, Giám đốc (Tổng Giám đốc). Còn người quản lý NHTMCP do điều lệ quy định là những người có chức danh do HĐQT bổ nhiệm hoặc phê chuẩn.
Cách tiếp cận về khái niệm “người quản lý NHTMCP” của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều lệ mẫu và Điều lệ của các NHTMCP đại chúng hiện nay là phù hợp với cách tiếp cận của pháp luật của các nước tiên tiến như Mỹ. Theo pháp luật của các bang của Hoa Kỳ, người quản lý công ty bao gồm thành viên HĐQT và người điều hành công ty. Các đạo luật công ty của các bang cũng không đưa ra định nghĩa về người điều hành công ty. Điều 55-8-40 của Luật Công ty cổ phần bang North Carolina chỉ quy định như sau: “Công ty cổ phần có người điều hành công ty được mô tả trong quy chế của công ty (bylaws) hoặc được bổ nhiệm bởi HĐQT.”
2. Nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý NHTMCP
Những người được coi là người quản lý NHTMCP là những người có vị trí quản lý quan trọng nhất trong cơ cấu tổ chức của NHTMCP. Người nắm giữ các vị trí quản lý này là những người có thẩm quyền ra hoặc tham gia ra các quyết định quan trọng có ảnh hưởng đến toàn bộ hoặc một phần đáng kể đến hoạt động kinh doanh hoặc tình trạng tài chính của NHTMCP. Trong thực tiễn, các quyết định về chiến lược kinh doanh, kế hoạch kinh doanh dài hạn, trung hạn, lãi suất tiền gửi, lãi suất cho vay, quyết định cho vay với số liền lớn,… được coi là những quyết định quan trọng. Vì vậy, khi ra hoặc tham gia ra các quyết định quan trọng này, người quản lý NHTMCP phải cẩn trọng. Điều 38 khoản 2 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 quy định người quản lý tổ chức tín dụng có nghĩa vụ: “Thực hiện quyền, nghĩa vụ một cách trung thực, cẩn trọng, vì lợi ích của tổ chức tín dụng, cổ đông, thành viên góp vốn và chủ sở hữu tổ chức tín dụng.” Đây chính là nội dung của nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý tổ chức tín dụng nói chung và người quản lý NHTMCP nói riêng. Theo đó, người quản lý NHTMCP phải có nghĩa vụ cẩn trọng đối với ngân hàng và cổ đông khi thực hiện quyền, nghĩa vụ được giao.
Người quản lý công ty cổ phần nói chung cũng có nghĩa vụ cẩn trọng đối với công ty và cổ đông công ty. Tuy nhiên, tình trạng hoạt động kinh doanh và tài chính của các tổ chức tín dụng nói chung và các NHTMCP nói riêng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân tổ chức tín dụng và cổ đông mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung. Vì vậy, tiêu chuẩn về nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý NHTMCP phải cao hơn so với nghĩa vụ của của người quản lý công ty cổ phần nói chung. Ngoài ra, NHTMCP kinh doanh trong lĩnh vực đặc thù vì vậy, các quyết định kinh doanh cũng rất đặc thù. Do đó, tiêu chuẩn nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý NHTMCP cũng có nét đặc thù so với tiêu chuẩn về nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý công ty cổ phần thông thường.
Cho đến nay, Việt Nam chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào làm rõ nội dung và tiêu chuẩn của nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý công ty cổ phần nói chung và của người quản lý NHTMCP nói riêng. Từ thực tiễn điều tra, truy tố và xét xử các tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, cho thấy, có một số hành vi thiếu trách nhiệm của cán bộ ngân hàng. Có thể thấy rằng, trong thực tiễn, các hành vi vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng của cán bộ ngân hàng và người quản lý NHTMCP được thể hiện ở các hành vi thiếu trách nhiệm trong khi thi hành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, vẫn chưa có những văn bản hướng dẫn lý giải một cách khoa học về các tiêu chuẩn và nội dung của nghĩa vụ cẩn trọng để làm cơ sở pháp lý cho ngân hàng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như để các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm của người quản lý NHTMCP.
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa cẩn trọng là “do coi trọng mà có ý thức cẩn thận đối với việc gì.”3 Trong khi đó, cẩn thận là “Có ý thức tránh sơ suất, đề phòng những điều không hay có thể xảy ra.”4 Nếu hiểu một cách thông thường thì nghĩa vụ cẩn trọng đòi hỏi người quản lý NHTMCP phải coi trọng nhiệm vụ được giao và có ý thức tránh sơ xuất, đề phòng những điều không hay xảy ra trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao. Hay nói cách khác, người quản lý NHTMCP với trách nhiệm của mình phải làm thế nào để tránh những sơ suất, những thiệt hại, những rủi ro xảy ra đối với ngân hàng. Để làm được điều đó, người quản lý NHTMCP phải tận tâm với công việc được giao, thực hiện đầy đủ trách nhiệm của một người quản lý, cẩn thận trong từng quyết định, hành vi vì lợi ích tốt nhất của ngân hàng (lợi ích hợp pháp tối đa của ngân hàng).
Nghĩa vụ cẩn trọng còn đòi hỏi người quản lý NHTMCP phải ra các quyết định có căn cứ pháp lý, tuân theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông/Hội đồng quản trị và phải thực hiện các biện pháp hợp lý, đúng và đầy đủ trách nhiệm để bảo đảm lợi ích tốt nhất cho ngân hàng.
Chỉ có thể giải quyết đúng đắn một vấn đề nào đó nếu có thông tin đầy đủ và chính xác.5 Vì vậy, nghĩa vụ cẩn trọng cũng đòi hỏi quyết định của người quản lý NHTMCP phải dựa trên thông tin đầy đủ từ nguồn thông tin đáng tin cậy. Tùy từng hoàn cảnh mà xác định thế nào được coi là thông tin đầy đủ. Về nguyên tắc, thông tin có từ nhiều nguồn khác nhau, người quản lý NHTMCP chỉ được dựa vào các nguồn thông tin hợp pháp và có độ tin cậy cao. Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng người quản lý NHTMCP không phải là chuyên gia của tất cả các thông tin. Do đó, trong nhiều trường hợp, họ cần phải dựa vào nguồn thông tin do người khác cung cấp. Những nguồn thông tin được cung cấp bởi cơ quan nhà nước hữu quan, các tổ chức có chức năng cung cấp thông tin thuộc lĩnh vực chuyên môn nhất định, nhà tư vấn chuyên nghiệp, luật sư, kiểm toán viên, tổ chức định giá… được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy. Ngoài ra, nguồn thông tin được cung cấp bởi người điều hành và nhân viên ngân hàng phụ trách lĩnh vực chuyên môn của thông tin được cung cấp cũng được coi là nguồn thông tin đáng tin cậy trừ trường hợp trong hoàn cảnh nhất định người quản lý NHTM cổ phần biết hoặc buộc phải biết rằng nguồn thông tin này không đáng tin cậy. Nếu người quản lý NHTMCP ra quyết định vì tin tưởng hợp lý và ngay tình vào các nguồn thông tin đáng tin cậy kể trên mà gây thiệt hại cho ngân hàng thì không phải chịu trách nhiệm dù sau đó thông tin được cung cấp được chứng minh là không chính xác. Như vậy, nếu người quản lý NHTMCP ra quyết định mà không dựa vào thông tin đầy đủ từ nguồn thông tin đáng tin cậy được coi là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng. Trong vụ Chukyo Bank (năm 1997, Nhật Bản) liên quan đến việc Chukyo Bank cho khách hàng vay 2,7 tỷ yên từ năm 1988 đến qua hè năm 1990. Đến năm 1991, khách hàng phá sản để lại một khoản nợ 640 triệu yên không thể thu hồi được. Các cổ đông của ngân hàng khởi kiện thành viên HĐQT đại diện và các thành viên HĐQT khác vì vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng. Trong vụ việc này tòa án đã kết luận như sau: “Mặc dù biết được sự không đầy đủ của tài sản bảo đảm, ban điều hành vẫn ra quyết định trên cơ sở xem xét hoạt động kinh doanh của công ty A, giao dịch trong quá khứ, tiềm năng phát triển trong tương lai và sự hợp tác của công ty A trong các giao dịch của ngân hàng về trái phiếu chính phủ. Không thể thấy được sai sót nào của người quản lý ngân hàng như một người quản lý công ty thông thường trong quá trình ra quyết định. Vì vậy, không thể kết luận rằng thành viên HĐQT điều hành vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng khi tham gia biểu quyết tại ban điều hành.”6 Qua vụ việc này, có thể thấy không phải trong mọi trường hợp, phải có tài sản bảo đảm đầy đủ, ngân hàng mới quyết định cho vay. Quyết định cho vay của ngân hàng còn dựa vào nhiều yếu tố và thông tin khác như uy tín, năng lực kinh doanh, năng lực tài chính, tình trạng hoạt động, tiềm năng của khách hàng, tiềm năng của dự án,… Ngân hàng vẫn có thể cho một khách hàng đang kinh doanh thua lỗ vay tiền miễn rằng ngân hàng có đủ thông tin để khẳng định tiềm năng phát triển trong tương lai của khách hàng. Đây chính là nét đặc thù của hoạt động kinh doanh ngân hàng đòi hỏi các bên liên quan, tòa án và các cơ quan hữu quan phải xem xét và đánh giá thận trọng khi xem xét vấn đề nghĩa vụ cẩn trọng khi quyết định cho vay. Tuy nhiên xét về mặt tổng thể, nghĩa vụ cẩn trọng đòi hỏi quyết định của người quản lý NHTMCP phải được dựa trên thông tin đầy đủ từ nguồn thông tin đáng tin cậy.
Nghĩa vụ cẩn trọng cũng đòi hỏi người quản lý công ty quản lý và giám sát nhân viên dưới quyền nhằm ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm điều lệ, qui chế của công ty và các hành vi khác gây thiệt hại cho công ty. Đồng thời, người quản lý công ty cũng phải xây dựng được hệ thống ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro cho công ty. Các nghĩa vụ vừa nêu trên được gọi chung là nghĩa vụ kiểm soát rủi ro. Như vậy, thành viên HĐQT có nghĩa vụ tham gia các hoạt động giám sát Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc và bộ máy điều hành nhằm bảo đảm bộ máy điều hành tuân thủ pháp luật, điều lệ và qui chế công ty trong công tác điều hành. Lyman P.Q. Johnson & David Millon phân tích: “Không nghi ngờ gì khi nghĩa vụ này đòi hỏi người điều hành cao cấp có trách nhiệm thiết lập qui trình giám sát nội bộ phù hợp bao gồm hệ thống kiểm soát tài chính thích hợp nhằm phát hiện ra những sai sót hoặc tì vết trong hoạt động kế toán, cũng như hành vi tham ô các nguồn quĩ của công ty. Người điều hành cao cấp không thể mù quáng chấp nhận báo cáo tài chính từ cấp dưới mà không có cơ sở để tin tưởng vào báo cáo này. Người điều hành cấp cao có nghĩa vụ cẩn trọng một cách chắc chắn đến mức không thể bị chấm dứt khi người điều hành cao cấp chuyển nghĩa vụ này cho kiểm toán bên ngoài hoặc ban kiểm toán của HĐQT để xem xét tính chính xác của các báo cáo tài chính. Hơn nữa, người điều hành cao cấp cần bảo đảm sự tồn tại của hệ thống thông tin có khả năng phát hiện ra các hành vi vi phạm pháp luật.”7 Paul Graf tổng hợp một số hành vi vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng của người điều hành công ty trên thực tiễn như sau: "(1) Người điều hành bỏ qua những đề xuất của cấp dưới đáng tin cậy có thể ngăn ngừa thiệt hại cho công ty; (2) Đáng lẽ người điều hành có thể mua được một bộ phận lớn của thiết bị với giá rẻ hơn, nhưng đã không yêu cầu phòng vật tư tìm nguồn thiết bị trên toàn thế giới; (3) Sản phẩm mới là một thất bại tài chính vì người điều hành đã phụ thuộc quá nhiều vào tiếp thị trong khi đó một nghiên cứu bổ sung có thể chỉ ra những khiếm khuyết của chiến lược; (4) Công ty là nạn nhân của hành vi lừa đảo của người lao động, người điều hành tuyển dụng người lao động này đã không yêu cầu kiểm tra lý lịch tư pháp mà lại dựa vào sự bảo đảm của một đồng nghiệp hoặc lý lịch lao động.”8
Người quản lý NHTMCP cũng có nghĩa vụ kiểm soát rủi ro nhưng ở mức độ cao hơn. Ngân hàng thương mại cổ phần là một định chế tài chính. Sức khỏe của ngân hàng ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, pháp luật đòi hỏi trong hệ thống quản lý nội bộ của ngân hàng phải có hệ thống kiểm soát nội bộ. Điều 40 khoản 1 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 qui định: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là tập hợp các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ, cơ cấu tổ chức của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được xây dựng phù hợp với hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước và được tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.” Trong hệ thống kiểm soát nội bộ, mỗi cơ quan quản lý nội bộ của ngân hàng, mỗi người quản lý NHTMCP phải thực hiện các biện pháp, thủ tục và qui trình hợp lý trong việc ngăn ngừa, phát hiện và xử lý kịp thời rủi ro. Những hành vi như không thiết lập hệ thống ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro, hoặc có thiết lập hệ thống ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro nhưng hệ thống bất hợp lý, có khiếm khuyết, hoặc mặc dù có hệ thống ngăn ngừa và kiểm soát rủi ro nhưng không thực hiện đúng theo những biện pháp, qui trình, thủ tục cần thiết và hợp lý để ngăn ngừa, phát hiện và xử lý rủi ro được coi là vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng.
Từ những phân tích trên, có thể thấy nghĩa vụ cẩn trọng đòi hỏi người quản lý NHTMCP phải tận tâm với công việc được giao, thực hiện đầy đủ trách nhiệm của một người quản lý một cách thiện chí, trung thực vì lợi ích tốt nhất của ngân hàng, cụ thể: (1). Người quản lý NHTMCP phải tuân thủ đúng qui định của pháp luật, điều lệ, qui chế của ngân hàng, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; (2). Mọi quyết định của người quản lý NHTMCP phải dựa trên cơ sở thông tin đầy đủ từ nguồn thông tin đáng tin cậy; (3). Người quản lý NHTMCP phải thực hiện các biện pháp, thủ tục và qui trình giám sát hợp lý nhằm ngăn ngừa, phát hiện, xử lý và kiểm soát rủi ro cho ngân hàng.
3. Các trường hợp không vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng
Nếu người quản lý NHTMCP vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng thì sẽ phải chịu trách nhiệm pháp lý bao gồm trách nhiệm kỷ luật và trách nhiệm dân sự. Trong một số trường hợp nhất định, người quản lý NHTMCP có thể sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự. Vấn đề đặt ra là có trường hợp nào người quản lý NHTMCP không vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng mặc dù có thiệt hại xảy ra đối với ngân hàng không? Và nếu không thuộc trường hợp vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng thì đương nhiên không phải chịu trách nhiệm pháp lý tương ứng.
Thứ nhất, các quyết định kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là những quyết định kinh doanh đầy tính mạo hiểm và có độ rủi ro cao. Người quản lý NHTMCP là những người có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, điều đó không bảo đảm rằng tất cả các quyết định của họ không tránh khỏi những sai lầm và gây thiệt hại cho ngân hàng. Sự đúng sai của quyết định còn phụ thuộc vào nguồn thông tin mà người quản lý NHTMCP có được, khả năng đánh giá thông tin của người quản lý NHTMCP, sự nhậy cảm của người quản lý NHTMCP, những diễn biến nằm ngoài khả năng dự đoán của con người… Ngay tại thời điểm ra quyết định, việc đánh giá quyết định đó đúng hay sai là rất khó, nhất là các quyết định liên quan đến kế hoạch kinh doanh, quyết định cấp tín dụng... Trong nhiều trường hợp, chỉ sau một thời gian, người ta chỉ có thể dựa vào hậu quả của quyết định mà đánh giá tính đúng sai của quyết định. Do đó, tòa án không nên đánh giá tính đúng sai của quyết định. Giả sử nếu tòa án đánh giá tính đúng sai của một quyết định kinh doanh thì một điều chắc chắn rằng quyết định của tòa án chưa chắc đã đúng. Bởi vì thẩm phán không phải là các nhà kinh doanh chuyên nghiệp để có thể đánh giá tính đúng sai của một quyết định kinh doanh. Bản thân các nhà kinh doanh chuyên nghiệp cũng chưa chắc đã đánh giá được tính đúng sai của nội dung của quyết định kinh doanh. Vì vậy, tòa án chỉ nên xem xét về mặt thể thức ra quyết định. Nếu một quyết định được ban hành mà tuân thủ theo đúng qui trình, thủ tục, trên cơ sở đầy đủ thông tin, người ra quyết định thiện chí, trung thực và ra quyết định vì lợi ích tốt nhất của công ty, thì người ra quyết định không vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng và không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Trong thực tiễn, pháp luật các nước như Mỹ, Đức, Nhật Bản,… cũng thừa nhận nguyên tắc này. Trong vụ Ngân hàng Citigroup bị thiệt hại trên thị trường cho vay dưới chuẩn, cổ đông của ngân hàng đã tiến hành khởi kiện các cựu thành viên HĐQT và người điều hành của ngân hàng này, tòa án bang Delaware - Hoa Kỳ nhận định: “Qui tắc kinh doanh là “sự mặc định rằng khi ra một quyết định kinh doanh, thành viên HĐQT của công ty dựa trên cơ sở thông tin, với sự thiện chí, trung thực và niềm tin chính đáng rằng hành vi này vì lợi ích tốt nhất của công ty.” Để chối bỏ mặc định này, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh. Vì vậy, nếu không có chứng cứ chứng minh có tư lợi hoặc sự không trung thành khi ra quyết định, thẩm phẩm hoặc bồi thẩm đoàn không được xem xét lại nội dung của quyết định của HĐQT nếu như chúng là sản phẩm của một qui trình hợp lý và các thành viên HĐQT đã sử dụng tất cả các thông tin trọng yếu và hợp lý.”9
Thứ hai, trong phạm vi nhiệm vụ quyền hạn của mình, người quản lý NHTMCP phải có nghĩa vụ kiểm soát rủi ro. Tuy nhiên, rủi ro là những sự kiện bất lợi cho ngân hàng nhưng lại xảy ra trong tương lai. Việc đánh giá một sự kiện có khả năng xảy ra trong tương lai được dựa trên các mô hình nhất định trên cơ sở các sự kiện xảy ra trong quá khứ cũng như hiện tại. Vì vậy, không phải trong mọi trường hợp, người quản lý NHTMCP có khả năng phát hiện ra tất cả các rủi ro. Cho nên sẽ là không công bằng nếu như trong mọi trường hợp đều qui chụp cho người quản lý NHTMCP là “thiếu trách nhiệm” hoặc “vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng” khi để xảy ra rủi ro cho ngân hàng. Để xác định trách nhiệm của người quản lý ngân hàng, cần dựa vào qui trình kiểm soát rủi ro, chứ không chỉ dựa vào hậu quả là rủi ro xảy ra. Như vậy, nếu người quản lý NHTMCP đã thiết lập được hệ thống kiểm soát rủi ro, thực hiện đầy đủ các thủ tục, biện pháp và qui trình cần thiết và hợp lý nhằm ngăn ngừa, phát hiện và xử lý rủi ro mà rủi ro vẫn xảy ra thì không thuộc trường hợp vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng và không phải chịu trách nhiệm pháp lý. Quan điểm này cũng được thể hiện trong quyết định của tòa án bang Delaware trong vụ việc vừa nêu trên: “Nghĩa vụ giám sát theo pháp luật của bang Delaware không đòi hỏi thành viên HĐQT, dù là thành viên HĐQT là chuyên gia chịu trách nhiệm cá nhân cho việc không dự đoán được sự kiện trong tương lai và không đánh giá được rủi ro kinh doanh một cách đầy đủ.”10
4. Kết luận và kiến nghị
Pháp luật Việt Nam đã có quy định về nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý tổ chức tín dụng nói chung và người quản lý NHTMCP nói riêng. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có quy định rõ nội dung và tiêu chuẩn của nghĩa vụ cẩn trọng. Thực tế này tạo ra ranh giới mong manh giữa vi phạm và không vi phạm nghĩa vụ cẩn trọng. Trong thực tiễn, người quản lý NHTMCP rất dễ có nguy cơ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Như nhận định sau: “Bên cạnh đó, còn có những điều luật chung chung như Điều 285, Bộ luật Hình sự về thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, mà không chỉ rõ ra thế nào là thiếu trách nhiệm và thiếu trách nhiệm cái gì. Điều này dẫn đến tình trạng hễ ngân hàng có thiệt hại, mất vốn (mà thường là đến tiền tỷ) và sau khi rà soát quy trình phát hiện thấy khâu nào sơ sót thì cán bộ sẽ bị quy kết là thiếu trách nhiệm.”11 Ngoài ra, việc không xác định rõ nội dung và tiêu chuẩn của nghĩa vụ cẩn trọng cũng sẽ gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm dân sự và trách nhiệm kỷ luật của người quản lý NHTMCP. Vì vậy, chúng tôi xin đề xuất như sau:
Thứ nhất, nội dung và tiêu chuẩn của nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý công ty nói chung cần được giải thích cụ thể. Tuy nhiên, thay vì Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản hướng dẫn thi hành nỗ lực giải thích nội dung và tiêu chuẩn của nghĩa vụ cẩn trọng, nên để tòa án lý giải nội dung nghĩa vụ cẩn trọng. Bởi lẽ, dù Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng và văn bản hướng dẫn thi hành có được soạn thảo và tư vấn kỹ càng bởi các chuyên gia giỏi đến đâu thì cũng không có khả năng bao quát hết được những tình huống sinh động liên quan đến nội dung của nghĩa vụ cẩn trọng. Điều này sẽ dẫn đến nhiều khoảng trống trong pháp luật. Trong khi đó, trong từng tình huống cụ thể, dựa vào chứng cứ, tập quán và những qui tắc trị doanh nghiệp chung, tòa án sẽ phân tích, biện giải những nội dung chi tiết của nghĩa vụ cẩn trọng. Những phân tích, đánh giá và kết luận trong các bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của tòa án nhân dân tối cao sẽ là những khuôn mẫu để các tòa án cấp dưới vận dụng giải quyết các vụ tương tự sau này. Phương hướng này phù hợp với các nước trên thế giới như Mỹ, Anh, Úc, Singapore, Đức, Pháp, Nhật Bản… Vì vậy, chúng tôi đề xuất cần thừa nhận án lệ ở Việt Nam.
Thứ hai, nội dung và tiêu chuẩn của nghĩa vụ cẩn trọng của người quản lý NHTMCP cần được xây dựng sao cho bảo đảm nguyên tắc bảo vệ lợi ích của ngân hàng, lợi ích của cổ đông, an toàn tài chính nhưng cũng phải bảo đảm sao cho người quản lý NHTMCP dám mạnh dạn ra các quyết định kinh doanh mạo hiểm có lợi cho sự phát triển kinh tế, cũng như tránh cho người quản lý NHTMCP cần gánh chịu trách nhiệm khi gặp phải những rủi ro khách quan không thể lường trước. Vì lẽ đó, nội dung và tiêu chuẩn nghĩa vụ cẩn trọng chỉ nên tập trung vào quy trình ra quyết định, quy trình kiểm soát rủi ro thay vì nội dung của quyết định và kết quả của sự kiểm soát.
1http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/pages/htctctd/nh/nhtm/nhtmcp?_afrLoop=9549145376604835&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=ohncey8zs_79#%40%3F_afrWindowId%3Dohncey8zs_79%26_afrLoop%3D9549145376604835%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dohncey8zs_115
2http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vimenu/vipages_vicsdlcty/ctydaichung?_adf.ctrl-state=13fa4ie0te_4&_afrLoop=17848336412766566
3Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng & Trung tâm từ điển học, 2003, tr. 123
4Viện Ngôn ngữ học, sđd, tr. 123
5PGS., TS. Đỗ Thị Hải Hà, Chuyên đề tâm lý học lãnh đạo quản lý (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa), Cục Phát triển
doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, 2012, tr. 41
6Trích dẫn từ Mitsuru Misawa, Bank directors’ decisions on bad loan: A comparative study of U.S. and Japanese standards of required care, Banking Law Journal, 122 Banking L.J. 429 2005, tr.436-437
7Lyman P.Q. Johnson & David Millon (2005), Recalling why corporate officers are fiduciaries, William and Mary Law Review, Volume 46, No. 5, tr. 1637
8Paul Graf (2011), A Realistic Approach to Officer Liability, The Business Lawyer; Vol. 66, tr. 322
9In Re Citigroup Inc. Shareholder derivative litigation, Civil Action No. 3338-CC (2009)
10In Re Citigroup Inc. Shareholder derivative litigation, Civil Action No. 3338-CC (2009)
11Ranh giới đúng và sai luật của cán bộ ngân hàng (Tin nhanh chứng khoán), tải xuống lúc 20:30 ngày 25/08/2015 từ http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/ranh-gioi-dung-va-sai-luat-cua-can-bo-ngan-hang-20026.html
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Nguyễn San Miên Nhuận, Nguyễn Xuân Trường, Phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng ở Việt Nam hiện nay, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.
2. PGS., TS. Đỗ Thị Hải Hà, Chuyên đề tâm lý học lãnh đạo quản lý (Tài liệu dành cho đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa), Cục Phát triển doanh nghiệp - Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Hà Nội, 2012.
3. Quyết định Giám đốc thẩm số 02/2011/HS-GĐT ngày 17/03/2011 về vụ án hình sự Hoàng Đình Dung phạm tội “Thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước”
4. Ranh giới đúng và sai luật của cán bộ ngân hàng (Tin nhanh chứng khoán), tải xuống lúc 20:30 ngày 25/08/2015 từ http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-phap-luat/ranh-gioi-dung-va-sai-luat-cua-can-bo-ngan-hang-20026.html
5. Thái Hưng, Thực trạng và nguyên nhân các vi phạm tội phạm trong lĩnh vực tín dụng, ngân hàng, http://www.vksndtc.gov.vn/tin-chi-tiet-4971
6. Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng & Trung tâm từ điển học, 2003
7. In Re Citigroup Inc. Shareholder derivative litigation, Civil Action No. 3338-CC (2009)
8. Lyman P.Q. Johnson & David Millon (2005), Recalling why corporate officers are fiduciaries, William and Mary Law Review, Volume 46, No. 5
9. Mitsuru Misawa, Bank directors’ decisions on bad loan: A comparative study of U.S. and Japanese standards of required care, Banking Law Journal, 122 Banking L.J. 429 2005
10. Paul Graf (2011), A Realistic Approach to Officer Liability, The Business Lawyer; Vol. 66
11. http://www.sbv.gov.vn/portal/faces/vi/pages/htctctd/nh/nhtm/nhtmcp?_afrLoop=9549145376604835&_afrWindowMode=0&_afrWindowId=ohncey8zs_79#%40%3F_afrWindowId%3Dohncey8zs_79%26_afrLoop%3D9549145376604835%26_afrWindowMode%3D0%26_adf.ctrl-state%3Dohncey8zs_115
12. http://www.ssc.gov.vn/ubck/faces/vi/vimenu/vipages_vicsdlcty/ctydaichung?_adf.ctrl-state=13fa4ie0te_4&_afrLoop=17848336412766566
1 Công ty Luật Âu Á