Ngân hàng thương mại với việc xử lý tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho
ThS. Trịnh Thị Phan Lan1
Gần đây, thị trường đã ghi nhận một số vụ tranh chấp tài sản bảo đảm là hàng hóa tồn kho khi doanh nghiệp thế chấp ở nhiều ngân hàng để vay vốn. Đây không phải là những tình huống cá biệt, bởi cho vay bằng tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho đang chiếm tỷ lệ cao trong cho vay khách hàng doanh nghiệp và Việt Nam vẫn chưa có bên thứ ba độc lập đứng ra đảm bảo về tài sản thế chấp.
Rủi ro phát sinh từ cho vay có tài sản đảm bảo là hàng tồn kho
Tại các ngân hàng, cho vay đảm bảo bằng hàng hóa tồn kho chiếm tỷ lệ lớn trong cho vay khách hàng doanh nghiệp. Đây cũng là tài sản chủ đạo của các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp càng lớn thì càng thường xuyên sử dụng kho hàng làm tài sản đảm bảo. Ngân hàng đối mặt với rủi ro trong cả hai trường hợp: i) quản lý tài sản đảm bảo là hàng tồn kho trong thời gian khách hàng vay nợ; ii) xử lý tài sản là hàng tồn kho khi khách hàng không thanh toán được nợ vay.
- Về quản lý tài sản đảm bảo:
Về nguyên tắc, khi nhận tài sản đảm bảo là hàng hóa tồn kho thì giá trị tài sản đảm bảo phải lớn hơn giá trị khoản vay. Đối với loại tài sản bảo đảm này, ngân hàng thường sử dụng biện pháp bảo đảm thế chấp, có nghĩa là tài sản hàng hóa bảo đảm được quản lý tại kho của khách hàng với bảo vệ trông kho do phía ngân hàng thuê hoặc thuê kho của bên thứ ba. Nhưng thông thường, một khoản vay của khách hàng chỉ có giá trị một phần so với kho hàng và doanh nghiệp cũng chỉ dùng phần hàng hóa trong kho tương ứng với khoản vay làm tài sản bảo đảm. Như vậy, doanh nghiệp cũng có thể dùng kho hàng làm tài sản bảo đảm để vay nợ nhiều nơi khi mà họ thực hiện một khoản vay khác.
- Về xử lý tài sản đảm bảo:
Thứ nhất, doanh nghiệp khi dùng khoản vay mua hàng, có thể xuất hiện tình huống chưa thanh toán hết cho bên bán hàng. Như vậy, tài sản đó chưa phải là tài sản của doanh nghiệp và bên bán hàng cũng có quyền xử lý kho hàng đó để thu hồi nợ. Trong trường hợp này, ngân hàng không chỉ phải tranh chấp với nhau, mà còn phải tranh chấp với cả bên bán hàng.
Thứ hai, khi xử lý tài sản đảm bảo để thu hồi nợ, ngân hàng thường đối mặt với nguy cơ giá bán giảm, nguy cơ bị “tuồn kho” hoặc khó bán tài sản. Nếu tiếp tục duy trì kho hàng thì tốn chi phí vận hành. Ngoài ra, tài sản bảo đảm này là hàng hóa luân chuyển, tức là liên tục có nhập hàng, xuất hàng, khối lượng hàng hóa thay đổi liên tục nên khó quản lý về số lượng.
Không thể phủ nhận, nguyên nhân của rủi ro từ tài sản bảo đảm bằng hàng tồn kho đến từ hai phía. Nhiều khách hàng cố tình gian dối, làm giả chứng từ để vay khống nhiều ngân hàng. Tuy nhiên, cũng phải thẳng thắn thừa nhận nguyên nhân chính vẫn là các ngân hàng.
Một là, do giai đoạn thẩm định, phê duyệt cho vay, ngân hàng chỉ chú trọng đến hóa đơn chứng từ và lời khai của khách hàng, mà không thẩm định thực tế tài sản cũng như hoạt động của doanh nghiệp. Sự đảm bảo khi cho vay nếu chỉ dựa vào hàng hóa là không ổn, mà phải dựa trên cơ sở sự minh bạch về thông tin thực sự của doanh nghiệp.
Hai là, lỗi ở quy trình. Chính sách quản lý rủi ro chung của ngân hàng thiếu sự minh bạch, dẫn đến khách hàng có thể che giấu thông qua hoạt động đảo nợ, thậm chí có sự giúp sức hoặc yêu cầu bắt buộc từ phía ngân hàng. Nhiều khi doanh nghiệp muốn được gia hạn nợ nhưng vì ngân hàng không muốn làm xấu tình trạng tài chính của mình, bởi gia hạn nợ là thừa nhận một khách hàng “xấu”, đã không chấp nhận mà yêu cầu doanh nghiệp phải đảo nợ.
Ba là, ngân hàng thiếu kinh nghiệm trong quản lý và xử lý tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho. Hiện nay, các ngân hàng sử dụng biện pháp thế chấp đối với hàng hóa tồn kho luân chuyển, tài sản bảo đảm được quản lý tại kho của khách hàng với bảo vệ trông kho do phía ngân hàng thuê hoặc thuê kho của bên thứ ba. Tuy nhiên, với biện pháp thế chấp này, ngân hàng không trực tiếp nắm giữ tài sản, nên vẫn gặp rất nhiều rủi ro như đã nêu trên. Hơn nữa, có tình trạng nhân viên ngân hàng lơ là quản lý, tạo cơ hội cho doanh nghiệp “tráo hàng” hoặc bán trộm hàng hóa.
Nguyên nhân nữa khiến việc xử lý tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho kéo dài và tốn nhiều chi phí chính là ở khung pháp lý. Các quy định pháp luật về xử lý tài sản bảo đảm hiện còn nhiều vướng mắc, chưa thật sự tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu và bảo vệ quyền lợi chính đáng của phía chủ nợ nói chung, của các ngân hàng nói riêng. Đặc biệt, trình tự, thủ tục khởi kiện, xét xử và thi hành án dân sự quá phức tạp và kéo dài.
Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06/6/2014 hướng dẫn một số vấn đề về xử lí tài sản bảo đảm dù đã đưa ra các quy định về thủ tục xử lý cho từng loại tài sản đảm bảo, nhưng chưa giải quyết hết các vấn đề trong xử lý tài sản đảm bảo của các ngân hàng. Bởi Thông tư chưa lường hết được các loại rủi ro trên thực tế về tài sản bảo đảm trong quá trình ngân hàng nhận và xử lý. Ví dụ như nhận tài sản bảo đảm là hàng hóa tồn kho đang luân chuyển, rủi ro bất thường ở đây không phải là không bán được hàng hóa, bên thế chấp không giao hàng mà thường do số lượng giả tạo, trùng hàng, tranh chấp giữa ngân hàng và bên bán hàng do bên thế chấp chưa thanh toán hết tiền hàng. Thông tư chưa giải quyết hết được những vấn đề này, đây là vấn đề thực tiễn vẫn phát sinh hàng ngày và điều này làm cho các ngân hàng còn gặp khó khăn.
Giải pháp xử lý tài sản đảm bảo bằng hàng tồn kho
Để hạn chế rủi ro khi sử dụng biện pháp bảo đảm bằng kho của bên thứ ba, tốt nhất, các ngân hàng nên trực tiếp ký hợp đồng hai bên với bên cho thuê kho và trực tiếp trả tiền thuê để bảo đảm duy nhất một đầu mối quan hệ, tránh trường hợp ký ba bên như hiện nay, khiến cho bên cho thuê kho chỉ biết đến khách hàng của ngân hàng.
Tuy nhiên, việc thuê kho bên thứ ba khiến ngân hàng phát sinh rất nhiều chi phí. Để tránh những rủi ro trong việc nhận thế chấp hàng hóa, ngân hàng cần áp dụng hình thức nhận bảo đảm bằng hàng hóa theo lô hàng xác định cụ thể, toàn bộ hàng hóa được chứa trong một khu vực riêng của kho hàng, đồng thời vẽ sơ đồ vị trí hàng hóa lưu kho, đăng ký giao dịch bảo đảm cả phụ lục sơ đồ lưu kho hàng, tránh sự trùng lặp hay lẫn lộn hàng hóa với khách hàng. Biện pháp này đơn giản hơn việc ngân hàng tự thuê kho hàng và nếu xảy ra khởi kiện thì tính pháp lý cũng rất cao.
Mặt khác, cần có sự hợp tác giữa nhiều ngân hàng để tìm một số hãng kho vận uy tín đứng ra làm trung gian gửi giữ hàng hóa. Khi các doanh nghiệp gửi hàng vào kho, họ sẽ được cấp chứng chỉ ghi nhận thông tin về số lượng, chất lượng, chủng loại và sở hữu về hàng hóa. Các doanh nghiệp có thể đem các chứng chỉ này thế chấp vay vốn tại các ngân hàng. Với uy tín của hãng kho vận, ngân hàng sẽ mặc nhiên ghi nhận các thông tin để nhận thế chấp hàng hóa mà không nhất thiết phải thẩm định trực tiếp hàng. Khi cần xử lý tài sản bảo đảm, chỉ với chứng chỉ này, ngân hàng cũng có thể bán được hàng hóa với sự hợp tác của hãng kho vận qua các thủ tục pháp lý hợp lý. Ở các nước phát triển, đây là biện pháp rất phổ biến. Nếu một ngân hàng làm thì rất khó nhưng nếu các ngân hàng cùng liên kết, đây là một biện pháp dễ triển khai, ít tốn kém và thuận lợi hơn rất nhiều cho cả khách hàng và ngân hàng.
Phòng bệnh hơn chữa bệnh, do vậy, để không rơi vào cảnh phải xử lý tranh chấp kho hàng, mất vốn, ngân hàng cần nâng cao chất lượng công tác quản trị rủi ro. Trước khi phê duyệt khoản vay bằng tài sản đảm bảo là kho hàng, ngân hàng cần thẩm định kỹ về tài sản đảm bảo này cũng như xây dựng được phương thức quản trị tốt nhất với khoản vay.
Một số kiến nghị
Việc doanh nghiệp thế chấp hàng tồn kho để vay tín dụng vẫn được xem là chuyện bình thường trong nền kinh tế thị trường. Nhưng điều kiện kèm theo rõ ràng là phải có bảo hiểm hàng hoá tồn kho. Phải có các tổ chức bảo hiểm, phải thực thi các nghiệp vụ định giá hàng hoá bao gồm số lượng hàng, chất lượng hàng, thị trường tiêu thụ hàng khi phát mãi hoặc xác định tỉ lệ chiết khấu khi hoán chuyển hàng qua thị trường thứ cấp. Có được những điều kiện đó, rủi ro của ngân hàng khi nhận tài sản đảm bảo thế chấp là hàng tồn kho của doanh nghiệp sẽ hoàn toàn được giảm thiểu.
Ngoài ra, để việc ngân hàng nhận hàng tồn kho của doanh nghiệp làm tài sản đảm bảo được phát triển một cách bình thường, Nhà nước cần ban hành quy định liên quan đến xây dựng một sàn giao dịch chuyên mua bán hàng tồn kho thứ cấp. Đó là “đầu ra” cho các hàng hoá tồn kho được mua đi bán lại, luân chuyển giữa doanh nghiệp, các tổ chức ngân hàng, các tổ chức đầu tư, bảo hiểm và các tổ chức khác trong toàn bộ thị trường, để hàng tồn kho không chỉ là tài sản đọng và rơi vào viễn cảnh mất giá sau một thời gian nhất định.
1 Đại học Kinh tế - ĐHQGHN