Chiều ngày 11/5/2026, phát biểu chỉ đạo tại phiên họp lần thứ ba năm 2026 của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng – Trưởng Ban Chỉ đạo đã nhấn mạnh một trong những nhiệm vụ quan trọng là tập trung phát triển đồng bộ hạ tầng số, chuyển đổi số toàn diện; bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu thông suốt, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp; phát triển kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo là trọng tâm của chuyển đổi số quốc gia.
Tham dự phiên họp có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo, thành viên Ban Chỉ đạo là lãnh đạo các bộ, ngành Trung ương.
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì phiên họp
Về phía Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Thống đốc Phạm Đức Ấn, Phó Thống đốc Phạm Tiến Dũng tham dự phiên họp.
Đây là phiên họp đầu tiên của Ban Chỉ đạo sau khi Chính phủ được kiện toàn; đã bổ sung đầy đủ các đồng chí Phó Thủ tướng tham gia làm Phó Trưởng Ban; đồng thời cơ quan thường trực Ban Chỉ đạo cũng đã được chuyển sang Bộ Công an từ Bộ Khoa học và Công nghệ nhằm đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Tại phiên họp, Ban Chỉ đạo tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện tình hình, kết quả, tiến độ thực hiện các nhiệm vụ, những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế, vướng mắc; đề xuất các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm trong tháng 5, quý II và thời gian tới.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng phát biểu chỉ đạo tại phiên họp
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt nhiều kết quả
Phiên họp thống nhất đánh giá, thời gian qua, công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành được triển khai quyết liệt, đồng bộ, lãnh đạo Chính phủ đã trực tiếp làm việc với từng bộ, ngành, trong đó có nội dung đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính (TTHC), thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số.
Thể chế, cơ chế, chính sách được tập trung hoàn thiện với việc tập trung xây dựng, hoàn thiện và trình Quốc hội phê duyệt 05 luật (Luật an ninh dữ liệu, Luật Bưu chính, Luật Tần số vô tuyến sửa đổi, Luật Đo lường sửa đổi và Luật Viễn thông); ban hành các nghị định, văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
Việc triển khai nhiệm vụ có chuyển biến tích cực, đến ngày 03/5/2026, tổng số nhiệm vụ theo Nghị quyết số 11, Chương trình số 02 và các kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương là 1.136 nhiệm vụ; đã hoàn thành 662 nhiệm vụ, đạt 58,3%.
Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đạt nhiều kết quả cụ thể; đã điều chỉnh, phê duyệt 10 nhóm công nghệ chiến lược trọng điểm, 30 sản phẩm công nghệ chiến lược; công bố quốc tế tăng 11,3%; rà soát danh mục 2.441 tiêu chuẩn, quy chuẩn; doanh thu lĩnh vực công nghệ số tháng 4/2026 ước đạt 24 tỷ USD.
Hạ tầng số tiếp tục phát triển, cơ bản đáp ứng yêu cầu kết nối, xử lý, lưu trữ và chia sẻ dữ liệu phục vụ chuyển đổi số. Mạng 3G, 4G phủ trên 99% dân số, 5G đạt 91,9% và dự kiến đạt 97% vào cuối năm 2026. Tốc độ Internet di động xếp thứ 11/104 và Internet cố định xếp thứ 12/154 quốc gia...
Đề án 06 tiếp tục khẳng định vai trò đầu tàu trong chuyển đổi số quốc gia, phục vụ thiết thực người dân, doanh nghiệp. Đã cấp hơn 27,7 triệu thẻ căn cước theo mẫu mới, kích hoạt hơn 70,2 triệu tài khoản định danh điện tử, nền tảng VNeID đã cung cấp 50 tiện ích; đã tích hợp 20,2 triệu giấy phép lái xe, 7,4 triệu đăng ký xe, 26,4 triệu thẻ bảo hiểm y tế; xác thực hơn 156 triệu hồ sơ khách hàng ngân hàng; nền tảng "Bình dân học vụ số" thu hút hơn 1,6 triệu học viên.
Cải cách TTHC, điều kiện kinh doanh được triển khai mạnh mẽ, gắn với chuyển đổi số và dữ liệu. Tại 08 Nghị quyết của Chính phủ ban hành ngày 29/4/2026, đã phân cấp 136 TTHC, bãi bỏ 186 TTHC, đơn giản hóa 396 TTHC, bãi bỏ 890 điều kiện kinh doanh.
Thống đốc Phạm Đức Ấn phát biểu tại phiên họp
Tại phiên họp, thay mặt NHNN, Thống đốc Phạm Đức Ấn đã trình bày tham luận với chủ đề “Dữ liệu ngân hàng và định danh điện tử: hình thành sản phẩm tài chính số phục vụ người dân, doanh nghiệp và phòng chống gian lận”.
Trong tiến trình triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW, Đề án 06 và các nhiệm vụ chuyển đổi số quốc gia, NHNN xác định dữ liệu, định danh và xác thực điện tử là nền tảng then chốt để đổi mới phương thức quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ ngân hàng số, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và bảo vệ người dân, doanh nghiệp trước các nguy cơ gian lận, lừa đảo trên môi trường số. Với đặc thù là ngành có tần suất giao dịch lớn, liên quan trực tiếp đến tài sản của người dân, doanh nghiệp và an ninh tiền tệ quốc gia, ngành Ngân hàng luôn đặt yêu cầu chuyển đổi số song hành với an toàn, bảo mật và quản trị rủi ro. Dữ liệu ngành Ngân hàng không chỉ phục vụ vận hành nghiệp vụ, mà ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng để hỗ trợ ra quyết định, tham mưu chính sách, giám sát hệ thống, phát triển dịch vụ tài chính toàn diện và phòng, chống gian lận.
Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã chủ động chuẩn bị nền tảng đó ở cả ba lớp: thể chế, dữ liệu và kết nối. Hiện tại, ngành Ngân hàng đang khai thác, phát triển nhiều nguồn dữ liệu chuyên ngành có giá trị cao như Kho dữ liệu báo cáo, thống kê ngân hàng với hơn 48 tỷ dòng dữ liệu; dữ liệu thông tin tín dụng của hơn 57 triệu khách hàng vay; dữ liệu của hơn 36 triệu khách hàng phục vụ công tác phòng, chống rửa tiền, tài trợ khủng bố, tài trợ vũ khí hủy diệt hàng loạt. Đây là những nguồn dữ liệu quan trọng hỗ trợ công tác quản lý, hoạch định chính sách, đồng thời nâng cao năng lực quản lý, giám sát, hỗ trợ các tổ chức tín dụng cung cấp dịch vụ an toàn, góp phần phát hiện sớm, ngăn chặn rủi ro gian lận, lừa đảo và rửa tiền.
Bên cạnh đó, NHNN đã đẩy mạnh việc rà soát, đơn giản hoá thủ tục hành chính (TTHC) thay thế thành phần hồ sơ bằng dữ liệu góp phần cắt giảm chi phí tuân thủ và thời gian giải quyết TTHC. Trên nền tảng định danh và dữ liệu được làm sạch, dịch vụ ngân hàng số tiếp tục phát triển mạnh mẽ, lan tỏa và kết nối ngày càng rộng với các ngành, lĩnh vực khác. Hầu hết các ngân hàng đã thực hiện kết nối, sử dụng dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để làm sạch dữ liệu khách hàng và xác thực danh tính điện tử một cách hiệu quả nhất.
Phát biểu kết luận, Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh phương châm hoạt động của Ban Chỉ đạo là tập trung thực hiện nghiêm chỉ đạo của Đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm: "Hành động đột phá, lan tỏa kết quả", với yêu cầu đặt ra là phải làm thực chất, hiệu quả, có kết quả cụ thể, đo đếm được.
Từ đầu năm và đặc biệt từ đầu tháng 4 đến nay, các cơ quan đã chủ động, tích cực triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số theo tinh thần Nghị quyết 57 và Kết luận 18; nhìn chung tình hình chuyển biến khá rõ nét, tích cực.
Thủ tướng nhấn mạnh một số quan điểm cần đặc biệt quan tâm; theo đó, người đứng đầu các bộ, ngành, địa phương trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về kết quả triển khai nhiệm vụ, làm có hiệu quả, thực chất, tuyệt đối không "làm cho có" hay làm đối phó; lấy kết quả thực hiện Nghị quyết 57, Đề án 06 làm tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của người đứng đầu từ năm 2026.
Tập trung phát triển đồng bộ hạ tầng số, chuyển đổi số toàn diện; bảo đảm kết nối, chia sẻ dữ liệu thông suốt, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp; phát triển kinh tế dữ liệu và trí tuệ nhân tạo là trọng tâm của chuyển đổi số quốc gia.
Thúc đẩy bằng được mô hình hợp tác "3 nhà" (Nhà nước - Viện/Trường - Doanh nghiệp) nhằm khơi thông nguồn lực cho nghiên cứu, phát triển và thương mại hóa công nghệ.
Về các mục tiêu, Thủ tướng nêu rõ, cần hoàn thành dứt điểm các nhiệm vụ đã quá hạn trong tháng 5/2026; không để phát sinh nhiệm vụ quá hạn mới.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng, kết nối, chia sẻ, làm sạch dữ liệu, có thời hạn cụ thể trong năm 2026 đối với các cơ sở dữ liệu quốc gia, chuyên ngành. Quyết liệt cải cách TTHC, điều kiện kinh doanh, bảo đảm thực hiện đúng tinh thần Kết luận số 18-KL/TW.
Phát triển mạnh công nghệ chiến lược, có kết quả cụ thể trong năm 2026, không chạy theo phong trào. Đẩy mạnh thực chất mô hình hợp tác "3 nhà" có kết quả cụ thể trong năm 2026; chuyển từ nghiên cứu phân tán sang đặt hàng theo bài toán lớn, có sản phẩm cụ thể, thị trường cụ thể, có cơ chế tài chính đặc thù, chấp nhận rủi ro có kiểm soát.
Người đứng đầu Chính phủ chỉ rõ các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm tháng 5, quý II và thời gian tới để tiếp tục thể chế hóa các chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng, đi cùng cơ chế, chính sách cụ thể; hoàn thiện khung kiến trúc tổng thể phục vụ cho chuyển đổi số và các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật; phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược; xây dựng, hoàn thiện dữ liệu, sử dụng liên thông và cơ chế chia sẻ dữ liệu, ban hành đầy đủ, đồng bộ các quy định cho môi trường mạng; đào tạo, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng cho mục tiêu trước mắt và lâu dài; phát triển hạ tầng số, bảo đảm an ninh mạng; đẩy mạnh cải cách hành chính và dịch vụ công trực tuyến; sử dụng kinh phí, vốn đầu tư và phân bổ các nguồn lực.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì thứ hạng cao về Chỉ số cải cách hành chính năm 2025
Tại Phiên họp, Bộ Nội Vụ đã báo cáo và công bố kết quả Chỉ số hài lòng của người dân về sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 (SIPAS 2025), Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (PAR INDEX 2025).
Theo đó, kết quả Chỉ số CCHC năm 2025 các bộ, cơ quan ngang bộ được phân theo 2 nhóm: Nhóm A, đạt kết quả Chỉ số từ 90% trở lên, bao gồm 04 đơn vị: Bộ Tư pháp; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam; Bộ Tài chính; Bộ Nội vụ. Nhóm B, đạt kết quả Chỉ số từ 80% - dưới 90% có 08 đơn vị là: Bộ Xây dựng; Bộ Nông nghiệp và Môi trường; Bộ Công Thương; Bộ Khoa học và Công nghệ; Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Bộ Ngoại giao; Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế.
Theo xếp hạng, Bộ Tư pháp đạt Chỉ số CCHC năm 2025 cao nhất với kết quả là 95, 48%, cao hơn 14,47% so với Bộ Y tế, đơn vị có kết quả Chỉ số CCHC năm 2025 thấp nhất, với giá trị là 81,01%.
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đứng thứ 2 trong bảng Chỉ số cải cách hành chính năm 2025 của các bộ, cơ quan ngang bộ (PAR INDEX 2025) với 93,20 điểm.
PL - Ảnh: Nhật Bắc