Tăng trưởng tín dụng (TTTD) những tháng qua thấp có hai lý do chính: một là tổng cầu nền kinh tế yếu và thường sản xuất kinh doanh của DN cũng tăng thấp trong quý I, II. Lý do nữa là từ 1/6/2014, các TCTD phải áp dụng Thông tư 09 nên tác động đến phân loại nợ trích lập dự phòng rủi ro, buộc các NH siết lại hoạt động tín dụng cũng như đánh giá lại độ rủi ro của các khoản cho vay. Vấn đề nợ xấu đã, đang là mối lo ngại của các TCTD. Vì vậy xử lý nợ xấu của các NH cần được thực hiện quyết liệt hơn.
Chúng ta cần đầu tư đúng và hiệu quả
Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN) Nguyễn Tiến Đông trả lời phỏng vấn phóng viên Thời báo Ngân hàng
Ngành Ngân hàng đã có rất nhiều nỗ lực nhưng đến giờ tín dụng vẫn tăng thấp. Vì sao thưa ông?
Tăng trưởng tín dụng (TTTD) những tháng qua thấp có hai lý do chính: một là tổng cầu nền kinh tế yếu và thường sản xuất kinh doanh của DN cũng tăng thấp trong quý I, II. Lý do nữa là từ 1/6/2014, các TCTD phải áp dụng Thông tư 09 nên tác động đến phân loại nợ trích lập dự phòng rủi ro, buộc các NH siết lại hoạt động tín dụng cũng như đánh giá lại độ rủi ro của các khoản cho vay. Vấn đề nợ xấu đã, đang là mối lo ngại của các TCTD. Vì vậy xử lý nợ xấu của các NH cần được thực hiện quyết liệt hơn.
Nhưng theo tôi, gốc vấn đề tăng tín dụng vẫn là sức cầu của nền kinh tế. Tổng cầu yếu, các DN, các thành phần kinh tế khó khăn thì sẽ không có nhiều hoạt động mở rộng đầu tư. Có thể một số DN bắt đầu vượt qua giai đoạn khó khăn nhưng để có niềm tin mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh hay không thì phải chờ thời gian nữa khi nền kinh tế hồi phục tốt hơn. Nhưng số này chỉ chiếm khoảng 30%, 70% DN còn lại vẫn đang trong tình thế khó khăn thì không dám nghĩ đến việc vay vốn NH hoặc không đủ điều kiện vay vốn.
Như vậy, nếu không giải quyết bài toán tổng cầu, tín dụng không thể tăng mạnh. Hy vọng nền kinh tế ấm dần lên thì nhu cầu vốn cũng cải thiện khá hơn. Mặt khác sản xuất kinh doanh của DN thường dồn vào những tháng cuối năm. Cầu tín dụng sẽ được cải thiện. Tôi cho rằng, năm nay TTTD đạt từ 10% trở lên.
Nếu vậy tín dụng sẽ tăng trên 7% nữa. Liệu vốn đổ mạnh vào cuối năm có tạo áp lực lên lạm phát?
Mong muốn của NH là tăng tín dụng đều qua các quý. Nhưng vốn NH tăng theo nhu cầu DN, sức hấp thụ của nền kinh tế. Việc tín dụng dồn vào cuối năm cũng có thể ảnh hưởng đến kiểm soát lạm phát. Nhưng kiểm soát lạm phát không chỉ qua kiểm soát lượng tiền trong lưu thông mà cả các yếu tố khác. Nếu TTTD mà tăng trưởng đúng, thực chất, có chất lượng, tôi nghĩ sẽ không ảnh hưởng lạm phát. Vì dòng tiền đi vào sản xuất thực sẽ tạo ra sản phẩm hàng hóa, dịch vụ. Nếu sức cầu cải thiện sẽ đẩy vòng quay của tiền nhanh hơn, đồng tiền được sử dụng hiệu quả hơn chứ không phải là tạo ra nhiều tiền hơn trong lưu thông. Chỉ có đầu tư không đúng, tức là đồng tiền không được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả thì mới tác động đến lạm phát.
Các TCTD đang triển khai đồng thời rất nhiều chương trình tín dụng lớn. Ông đánh giá thế nào về tác động của các chương trình này?
Có 4 chương trình tín dụng mà từ nay đến cuối năm NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh thực hiện. Và như bạn đã biết, gói tín dụng 30 nghìn tỷ đồng vừa được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận nới một số quy định, như kéo dài thời gian hỗ trợ đối với khách hàng là hộ gia đình, cá nhân với thời hạn cho vay tối đa từ 10 năm lên 15 năm; bổ sung thêm đối tượng được vay vốn từ gói tín dụng này. Thời gian tới các NH sẽ tập trung triển khai mạnh hơn, tôi hy vọng sẽ tác động tích cực đến TTTD của NH cũng như hỗ trợ thị trường bất động sản.
Chương trình thứ hai là cho vay đối với các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao và phục vụ xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, cánh đồng mẫu lớn… Vừa qua, đối với chương trình này đã có 11 DN tại 6 tỉnh được ký kết vay vốn khoảng 2.900 tỷ đồng. Thời gian tới đây, chúng tôi lựa chọn tiếp 10 DN nữa để làm. Hiện đã có hơn 30 tỉnh trình danh sách DN lên và chúng tôi giao cho NHNN chi nhánh các tỉnh, thành phố rà soát lại để đảm bảo đồng vốn đưa đến đúng đối tượng, đến DN có đủ năng lực thực triển khai các dự án quy mô lớn như mục tiêu của chương trình. Vì để đảm bảo sử dụng vốn hiệu quả cho chương trình này, DN phải có tiềm lực, vốn, kỹ năng, kinh nghiệm tổ chức được từ khâu đầu vào đến sản xuất, tiêu thụ hàng hóa. Khi đã rà soát xong, NHNN sẽ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ xác định tổ chức thêm đợt ký kết hợp đồng tín dụng nữa. Dự kiến sau thời gian thí điểm (1,5 – 2 năm) các mô hình này sẽ được nhân rộng.
Một chương trình nữa NHNN sẽ đẩy mạnh triển khai là liên kết 4 nhà: NH - chủ đầu tư - nhà thầu - nhà cung cấp vật liệu xây dựng. Chương trình này mới được thực hiện hơn 1 tháng. NHNN vừa có văn bản yêu cầu các NH tham gia chương trình này báo cáo tình hình triển khai. Thị trường bất động sản đã ấm dần nhưng vẫn còn nhiều ách tắc. Thời gian qua, dòng tiền cho lĩnh vực này bị các TCTD thắt chặt hơn trước. Vì vậy, cần có cơ chế chính sách mới để gỡ khó cho thị trường này, ví dụ giảm hệ số rủi ro trong cho vay lĩnh vực bất động sản xuống thấp hơn thay vì giữ 250% như hiện nay…
Cần phải kích thích đầu tư xây dựng phát triển vì nó nằm trong mối quan hệ tổng hòa, liên quan đến rất nhiều ngành nghề trong nền kinh tế. Song tôi lưu ý, mở rộng đầu tư thời điểm này rất tốt nhưng phải làm đúng, nếu đầu tư không đúng sẽ lại tác động ngược đến kinh tế, lạm phát… Đặc biệt, các công trình đầu tư công của Nhà nước cần giám sát chặt chẽ để đảm bảo vốn đi đúng đối tượng, không bị lãng phí, thất thoát, ảnh hưởng đến các ngành khác.
Vậy, vai trò của các ngành và chính quyền địa phương trong việc tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc như thế nào, thưa ông?
Hiện chương trình kết nối NH – DN tiếp tục triển khai nhân rộng trên các tỉnh thành cả nước. Có thể nói, những năm gần đây không chỉ DN mà bản thân các NHTM cũng đối mặt với nhiều khó khăn, như nợ xấu, các vấn đề phát sinh trong tiến trình tái cơ cấu… Chính vì vậy, cần được cấp ủy, chính quyền địa phương, các ngành chức năng, cơ quan pháp luật cùng vào cuộc để hỗ trợ tháo gỡ khó khăn cho NH và DN. Đúng là NH là mạch máu nền kinh tế, nhưng khi nền kinh tế èo uột mà không có chính sách đồng bộ thì một mình hệ thống NH không thể gánh vác được. Đơn cử với chương trình kết nối NH - DN tại một số địa phương, nhờ có sự vào cuộc tích cực của chính quyền các cấp nên những khó khăn vướng mắc của DN được tháo gỡ, tạo điều kiện để NH hỗ trợ DN tốt hơn. Hơn nữa có sự tham gia của chính quyền cũng là động lực để NH mạnh dạn hơn trong cấp tín dụng cho DN trên địa bàn.
Xin cảm ơn ông!
Thanh Huyền thực hiện